Nghiên cứu
[ Đăng ngày (21/07/2017) ]
|
|
Nghiên cứu lựa chọn tổ hợp phân bón cho hai giống lúa nếp đặc sản của tỉnh Tuyên Quang – khẩu Pái và khẩu Lường ván
|
|
|
Nghiên cứu do tác giả Nguyễn Thị Lan – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thực hiện nhằm nghiên cứu lựa chọn tổ hợp phân bón cho hai giống lúa nếp đặc sản của tỉnh Tuyên Quang.
|
Hiện nay, nhu cầu sử dụng gạo nếp ngon tại Tuyên Quang khá lớn, một số địa phương trong tỉnh như huyện Na Hang, Hàm Yên, Yên Sơn…có điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp để phát triển gieo trồng lúa nếp đặc sản chất lượng cao, tuy nhiên do năng suất các giống lúa này thấp, hiệu quả kinh tế không cao nên diện tích gieo trồng rất hạn chế. Để mở rộng diện tích, phát triển sang các địa phương khác,phát huy lợi thế cạnh tranh và xây dựng thương hiệu của tỉnh cần khôi phục các giống lúa trên cho đúng giống gốc và xác định biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Giống lúa khẩu Pái và khẩu Lường ván là 2 giống lúa nếp đặc sản của tỉnh Tuyên Quang. Để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, góp phần mở rộng diện tích 2 giống lúa này đã tiến hành thí nghiệm với 6 tổ hợp phân bón, trong đó tổ hợp 0 tấn phân chuồng + 60 kg N + 40 kg P2O5 + 40 kg K2O/ha được sử dụng làm đối chứng. Kết quả thí nghiệm cho thấy: Phản ứng của 2 giống lúa với các tổ hợp phân bón trong thí nghiệm là như nhau ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu. Số nhánh tối đa tăng tỷ lệ thuận với lượng phân bón, trong khi chiều cao cây và số nhánh hữu hiệu chịu ảnh hưởng của lượng phân bón không rõ ràng. Mức bón 9 tấn phân chuồng + 90 kg N + 70 kg P2O5 + 70 kg K2O/ha đến 10 tấn phân chuồng + 100 kg N + 80 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha bị nhiễm sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn và bệnh khô vằn ở điểm 1 như mức đối chứng (0 tấn phân chuồng + 60 kg N + 40 kg P2O5 + 40 kg K2O/ha). Khả năng chống đổ của 2 giống lúa không cao và có xu hướng tỷ lệ nghịch với lượng phân bón. Mức bón 7 tấn phân chuồng + 70 N + 50 P2O5 + 50 K2O/ha cho năng suất thực thu và lãi thuần cao nhất, trung bình 2 vụ đạt tương ứng là 41,94 tạ/ha và 29.745.000 đ/ha (giống khẩu Pái); 43,99 tạ/ha và 33.845.000 đ/ha (giống khẩu Lường ván). |
ttncac
Theo Tạp chí Nông nghiệp, Số 7/2017 |