Nghiên cứu
[ Đăng ngày (20/07/2017) ]
|
|
Đánh giá kiến thức về sơ cứu tai nạn bỏng của một số nhóm công nhân làm việc trong điều kiện có nguy cơ cháy nổ cao
|
|
|
Công tác sơ cấp cứu ngay sau bỏng bao gồm các bước đơn giản như đưa nạn nhân ra khỏi vùng nguy hiểm, loại bỏ tác nhân bỏng, đảm bảo chức năng sống, làm lạnh bề mặt vùng bỏng, bù nước điện giải, ủ ấm và gọi sự trợ giúp của nhân viên y tế. Thực tế cho thấy, mức độ nặng hay nhẹ của tổn thương bỏng cũng như thành công của điều trị bỏng không chỉ phụ thuộc vào hiệu quả điều trị tại các trung tâm bỏng mà còn phụ thuộc nhiều vào công tác sơ cứu ngay sau bỏng.
|
Tuy nhiên, qua thực tế tiếp nhận điều trị bệnh nhân bỏng, đặc biệt trong các vụ bỏng có nhiều nạn nhân, các biện pháp sơ cứu thường không được thực hiện đầy đủ, bị bỏ qua, thậm chí còn áp dụng các biện pháp sai dẫn đến làm nặng thêm tổn thương bỏng, làm tăng nguy cơ tử vong. Công nhân làm việc trong các nhà xưởng, ngành nghề có nguy cơ cao đối với tai nạn bỏng như điện lực, dầu khí, nhân viên cứu hỏa, việc phổ biến kiến thức cơ bản cho các đối tượng này có vai trò quan trọng trong xử lý sơ cấp cứu tai nạn bỏng. Các nhà khoa học thuộc Viện Bỏng Lê Hữu Trác và Học viện Quân y thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá kiến thức của các đối tượng nguy cơ cao về sơ cứu tại chỗ nạn nhân bỏng nhằm đưa ra biện pháp can thiệp nâng cao kiến thức và kỹ năng sơ cấp cứu bỏng của những đối tượng này.
Điều tra cắt ngang trên 674 công nhân làm việc trong lĩnh vực cứu hỏa, dầu khí và điện lực về sơ cấp cứu sau bỏng với các nội dung điều tra gồm đặc điểm đối tượng, biện pháp sơ cứu sau bỏng và nguồn thông tin có được.
Kết quả cho thấy, chỉ có 29,54% đối tượng trả lời đúng trên 75% số câu hỏi. 86,05% biết sử dụng nước sạch để làm lạnh bề mặt vết bỏng. Nhóm trẻ tuổi, nam giới và những người đã được tập huấn về sơ cứu bỏng có nhận thức cao hơn đáng kể so với nhóm còn lại (p < 0,001). Có sự khác biệt giữa nhận thức của đối tượng thuộc các ngành nghề khác nhau (p < 0,01). Nguồn thông tin chủ yếu từ phương tiện truyền thông và trường học chiếm 8%.
Kết luận: kiến thức của công nhân có nguy cơ cao về sơ cứu bỏng còn nhiều hạn chế. Cần có các lớp tập huấn để nâng cao kiến thức cho nhóm đối tượng này. |
ntbtra
Theo Tạp chí Y – Dược học Quân Sự (số 2 – 2017) |