Đề tài được thực hiện trên 38 bệnh nhân viêm gan B mạn, HBeAg (+) điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Quân y 103 từ 11 - 2006 đến 12 - 2013.
Cho đến nay, các nhà khoa học đều cho rằng không thể loại bỏ được HBV ra khỏi cơ thể. Các thuốc kháng virut, nhất là các analogue nucleot(s)ide chỉ có thể ức chế một cách sâu sắc sự sao chép của HBV, từ đó giúp người bệnh kiểm soát tăng sinh HBV. Kết quả là làm chậm quá trình tiến triển của bệnh, hạn chế dẫn tới xơ gan, ung thư tế bào gan và bệnh lý gan mất bù. Với BN VGVB mạn, HBeAg (+), mục tiêu cụ thể là: HBV-ADN dưới ngưỡng phát hiện, chuyển đảo huyết thanh HBeAg, bình thường hóa ALT tiến tới đáp ứng bền vững và lâu dài. Hiện nay, 7 analogue nucleot(s)ide được chấp thuận cho điều trị VGVB mạn, trong đó entecavir và tenofovir là các thuốc được ưu tiên điều trị đầu tiên. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều công bố về hiệu quả điều trị các analogue nucleot(s)ide.
Entecavir là cyclopentyl guanosine analogue có tác dụng ức chế ADN polymerase và enzym sao chép ngược. Với liều 0,5 mg hàng ngày, entecavir cho thấy hiệu lực điều trị vượt trội so với lamivudin và adefovir, tebivudine và tương đương tenofovir.
Nghiên cứu được thực hiện trong 5 năm ở 38 bệnh nhân đã cho kết quả: hầu hết bệnh nhân đều bình thường hóa triệu chứng lâm sàng sau 12 tuần, bình thường hóa ALT sau 12 - 24 tuần. 100% bệnh nhân có đáp ứng ban đầu, trong đó 60,2% có HBV-ADN dưới ngưỡng phát hiện ở thời điểm sau 12 tuần, 78,9% sau 48 tuần, 89,5% sau 96 tuần và 100% sau 3 năm điều trị. Chỉ có 2,6% BN tái phát virut, không có hiện tượng bùng phát virut và sinh hóa. Không có bệnh nhân nào mất HBsAg.
|