Ảnh minh học.
Đau là một biểu hiện rất phổ biến trong cuộc sống đời thường cũng như trong lĩnh vực chăm sóc điều trị bệnh nhi. Đau có thể ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe của người bệnh, thậm chí ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Để tìm các biện pháp có tác dụng làm giảm đau cho bệnh nhi khi thực hiện các thủ thuật là trách nhiệm của người cán Bộ Y tế nói chung, đặc biệt là của người điều dưỡng nhi khoa. Tuy nhiên những biện pháp can thiệp nhằm giải quyết đau cho bệnh nhi đặc biệt là đau do làm thủ thuật (tiêm, truyền, lấy xét nghiệm,…) vẫn còn ít được quan tâm. Đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng đường sucrose, fructose, glucose có ảnh hưởng làm giảm đau cho trẻ sơ sinh trong quá trình làm thủ thuật và cũng có sự so sánh về hiệu quả của 3 loại đường trên trong việc giảm đau cho trẻ. Mặc dù đường Glucose 30% đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới nhưng chưa được áp dụng tại Việt Nam vì chưa có bằng chứng nào cho thấy liệu trẻ em Việt Nam có thích ứng trong việc sử dụng đường Glucose 30% hay không, hơn nữa cũng chưa có bằng chứng nào khẳng định ngưỡng đau của trẻ em Việt Nam có khác với trẻ em nước ngoài.
Nghiên cứu trẻ có độ tuổi từ 2 tháng đến 12 tháng tuổi, khi nhập viện chưa làm các thủ thuật và không có các bệnh lý đặc biệt gây đau (như bệnh ung thư, có phẫu thuật…). 96 bệnh nhi được chia làm 2 nhóm. Nhóm1: Chọn ngẫu nhiên 48 trẻ có can thiệp sử dụng dung dịch G30% trước khi tiêm, truyền, lấy máu xét nghiệm một lần duy nhất. Nhóm 2: Chọn ngẫu nhiên 48 trẻ có can thiệp sử dụng nước cất trước khi tiêm, truyền, lấy máu xét nghiệm một lần duy nhất. Sử dụng phương pháp nghiên cứu mù đôi có kiểm soát và phương pháp nghiên cứu. Nhóm 1: Điều dưỡng dùng bơm tiêm hút 3-5ml dung dịch G30% nhỏ vào đầu lưỡi của trẻ trước khi làm thủ thuật 15-30 giây (s). Tiến hành thủ thuật 1 lần duy nhất. Sau đó đánh giá. Nhóm 2: Điều dưỡng dùng bơm tiêm hút 3-5ml dung dịch nước cất nhỏ vào đầu lưỡi của trẻ trước khi làm thủ thuật 15-30s. Tiến hành thủ thuật 1 lần duy nhất. Sau đó đánh giá.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ đau của trẻ trong và sau khi làm thủ thuật, bảng 3 cho thấy có sự khác biệt rõ rệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng nước cất và nhóm dùng G30% với mức “không đau, đau nhẹ” và “đau vừa” trong khi làm thủ thuật từ 0-15s, từ 15-30s và từ 30- 60s (p < 0,0001). Điểm đau trung bình trong khi làm thủ thuật ở nhóm dùng nước cất cao hơn gấp đôi so với nhóm dùng G30% trong khi làm thủ thuật ở thởi điểm từ 0- 15s, từ 15-30s và 30-60s. Sự khác biệt rất rõ rệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 về tần số tim trong khi làm thủ thuật ở nhóm dùng nước cất cao hơn so với tần số tim của nhóm dùng G30%. Về tần số tim sau làm thủ thuật giảm dần ở cả hai nhóm nhưng giảm nhanh ở nhóm dùng G30%.
|