Nghiên cứu [ Đăng ngày (26/06/2017) ]
Nghiên cứu điều chế phức kháng thể đơn dòng Nimotuzumab gắn đồng vị phóng xạ I-13 dùng trong điều trị ung thư
Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu, Võ Thị Cẩm Hoa, Nguyễn Thị Kháng Giang, Dương Văn Đông, Nguyễn Thị Hằng – Viện Nghiên cứu Hạt nhân, Đà Lạt, Việt Nam, Mai Trọng Khoa – Bệnh viện Bạch Mai, Nguyễn Lĩnh Toàn và Hồ Anh Sơn – Học viện Quân Y thực hiện.

Ảnh minh họa.

Trong những năm gần đây, kháng thể đơn dòng đánh dấu phóng xạ đã được nghiên cứu điều chế và ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị lâm sàng. Trong số đó, chế phẩm 131I-nimotuzumab gồm kháng thể đơn dòng kháng thụ thể EGFR, đánh dấu đồng vị phóng xạ 131I là một trong những dược chất phóng xạ được nghiên cứu sử dụng trong điều trị bệnh ung thư. Nhiều loại ung thư có thụ thể tăng trưởng biểu bì dương tính (EGFR: Epidermal Growth Factor Receptor). Thụ thể này thường liên quan tới ung thư biểu mô do đột biến hoặc tăng bộc lộ gây tình trạng tăng sinh quá mức của tế bào. Đây chính là yếu tố đích hấp dẫn trong trị liệu bằng kháng thể đơn dòng kháng EGFR. Nimotuzumab là kháng thể đơn dòng kháng thụ thể tăng trưởng biểu bì người theo cơ chế cạnh tranh với EGF (yếu tố tăng trưởng biểu bì) làm giảm chuyển hóa và chết tế bào bệnh. Kháng thể kháng EGFR - nimotuzumab được gắn với đồng vị phóng xạ 131I bằng phương pháp đánh dấu phóng xạ sử dụng chloramin T làm chất oxy hóa. Kháng thể đánh dấu được tinh chế và kiểm tra chất lượng theo tiêu chuẩn của thuốc phóng xạ để sử dụng lâm sàng. Đây là dược chất phóng xạ dùng trong điều trị ung thư đầu cổ bằng kỹ thuật RIT.

Đồng vị phóng xạ 131I dạng Na131I sản xuất tại Viện Nghiên cứu hạt nhân, nồng độ phóng xạ 100-200 mCi/ml. Kháng thể nimotuzumab, 50mg/10ml, hãng CIMAB, Cuba. Công thức phân tử C6566H10082N1746O2056S40, trọng lượng phân tử 150.000 g/mol. Hóa chất chloramin T, natri metabisulphite mua từ hãng Sigma Aldrich. Thiết bị sử dụng là máy điện di, máy quét Bioscan, máy đo phóng xạ Capintec. Phương pháp đánh dấu kháng thể nimotuzumab với đồng vị phóng xạ I-131: Đây là phương pháp được giới thiệu bởi Hunter và Greenwood để đánh dấu các hợp chất sinh học với chất phóng xạ iod. Kháng thể được đánh dấu với 131I trong môi trường đệm photphat 0,5 M, pH 7,5. Các nghiên cứu khảo sát thực hiện với hàm lượng ChT từ 10 mg đến 100 mg, pH 5, 6, 7, 8, 9, hàm lượng kháng thể từ 1 đến 200 mg, thời gian phản ứng 1 đến 60 phút. Các mẫu kháng thể đánh dấu phóng xạ được phân tích bằng sắc ký lớp mỏng TLC trong dung môi methanol và NaCl 0,9% theo tỉ lệ 85:15. Phức 131I-nimotuzumab được kiểm tra chất lượng bằng phương pháp sắc lý lớp mỏng, sắc ký lọc gel. Kiểm tra chất lượng sinh học thử theo Dược điển Việt Nam IV, phụ lục 13.2. Thử vô khuẩn bằng phương pháp cấy thuốc vào môi trường thioglicolat ủ ở nhiệt độ 30 - 350C, môi trường soya - bean casein digest ủ ở nhiệt độ 20 - 250C, quan sát 14 ngày liên tục. Thử nội độc tố vi khuẩn bằng phương pháp kết tụ gel dùng kit LAL (Limulus Amebocyte Lysate) và máy đo PTS 100 của hãng Charles River Laboratory, Mỹ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bằng phương pháp đánh dấu kháng thể nimotuzumab với đồng vị phóng xạ 131I dùng chất oxy hóa chloramin T, phức miễn dịch phóng xạ 131Inimotuzumab dùng trong điều trị ung thư đầu cổ đã được nghiên cứu điều chế. Với nhiều ưu điểm như phản ứng nhanh, dễ thực hiện, hàm lượng chloramin T dùng trong phản ứng đánh dấu rất bé, trong khoảng 200 mg chloramin T để oxy hóa từ 740 MBq 131I. Thời gian phản ứng đánh dấu nhanh 10 phút. Phản ứng đánh dấu đạt hiệu suất cao 95 - 96 % tại pH 7,0 và phương pháp đánh dấu ổn định. Phức hợp miễn dịch thu được đạt độ tinh khiết hóa phóng xạ và các chỉ tiêu kiểm tra chất lượng thuốc phóng xạ như độ vô khuẩn, nội độc tố vi khuẩn. Các đánh giá tiền lâm sàng như phân bố sinh học 131I- nimotuzumab trong các mô cho kết quả phân bố cao trong hệ tưới máu, các nghiên cứu về độc tính phóng xạ trên chuột thực nghiệm đối với các chỉ số huyết học, sinh hóa, các xét nghiệm vi thể tế bào các mô gan, thận, phối, lá lách, tim cho kết quả ổn định giữa các nhóm thực nghiệm liều điều trị và các nhóm đối chứng theo các thời gian 3 ngày và 30 ngày theo dõi. Các kiểm tra chất lương hóa lý và sinh học của 131I-nimotuzumab cho thấy phức miễn dịch phóng xạ 131I-nimotuzumab đạt tiêu chuẩn chất lượng thuốc phóng xạ dùng trong lâm sàng.

ntthang
Theo Tạp chí Y học thực hành, số 4 (2014)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này