Ảnh minh họa.
Cận thị học đường (CTHĐ) là một trong hai bệnh trường học có nhiều nguyên nhân và các yếu tố liên quan như bẩm sinh, di truyền, chủng tộc, môi trường học tập (điều kiện chiếu sáng, bàn ghế không phù hợp, thời gian học) và bản thân học sinh. Do đó, việc xác định được những yếu tố nào có nguy cơ rõ rệt làm cho cận thị học đường ở học sinh có chiều hướng gia tăng là vấn đề mà các nhà nghiên cứu về nhãn khoa cộng đồng, y tế trường học và các nhà giáo dục quan tâm.
Nghiên cứu 6.184 học sinh (3.222 nam và 2.962 nữ) tiểu học và trung học cơ sở (THCS) từ 6- 15 tuổi ở 04 quận, huyện ở Hà Nội là Ba Đình, Thanh Xuân, Từ Liêm và Đông Anh. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức mô tả cắt ngang, ước tính là 5.780 học sinh. Thực tế đã nghiên cứu 6.184 học sinh. Khám mắt, đo thị lực và thử kính xác định tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) cho tất cả học sinh theo danh sách đã chọn. Đo khúc xạ bằng máy khúc xạ tự động. Mắt được coi là cận thị: Khi khúc xạ cầu tương đương (KXCTĐ) ≥ -0,75D). Người được coi là cận thị khi có một mắt hoặc cả hai mắt cận thị. Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y sinh học bằng phần mềm SPSS 13.0.
Tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở Hà Nội là 33,7%. Học sinh nữ có tỷ lệ cận thị (35,0%) nhiều hơn học sinh nam (32,5%), (p<0,05). Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến cận thị học đường là tiền sử gia đình có người mắc bệnh cận thị (OR= 5,54); nhìn gần trên 8 giờ/ngày (OR = 8,19); xem ti vi, chơi điện tử trên 3 giờ/ngày (OR= 11,78); ngồi sai tư thế khi học, đọc sách, báo (OR= 5,08).
|