Nghiên cứu
[ Đăng ngày (03/06/2017) ]
|
|
Nghiên cứu hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân lân đối với lúa trên cơ cấu 3 vụ/năm ở vùng phù sa Tây sông Hậu của ĐBSCL
|
|
|
Nghiên cứu do các tác giả Mai Nguyệt Lan, Chu Văn Hách, Nguyễn Văn Bộ, Trương Thị Kiều Liên, Nguyễn Thị Thanh Tuyền, Đinh Thị Hải Minh, Chu Thị Hồng Anh, Võ Thị Thảo Nguyên, Nguyễn Thị Hồng Nam và Lê Thị Hồng Huệ thực hiện.
|
Phân bón đóng vai trò quan trọng trong thâm canh tăng năng suất và hiệu quả đầu tư cao còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện đất đai của từng vùng, mùa vụ, giống và trình độ canh tác của từng người. Hiện tại khuyến cáo sử dụng phân bón cho lúa từng địa phương rất khác nhau và cách nông dân sử dụng công thức cũng khác nhau do đó dẫn đến dẫn đến sự mất cân đối về tỷ lệ bón giữa các nguyên tố đa lượng làm cho hiệu quả đầu tư phân bón thấp.. Phân đạm và phân lân là hai yếu tố chủ chốt để gia tăng năng suất lúa vùng ĐBSCL, còn phân kali đóng góp cho gia tăng năng suất lúa không đáng kể. Để có cơ sở khoa học khuyến cáo sử dụng bón lân hợp lý tác giả đã đề cập tới khuynh hướng sau bao nhiêu vụ không bón P thì năng suất lúa bắt đầu giảm và xác định các tần suất bón lân 1 vụ rồi bỏ mấy vụ tiếp theo là hợp lý cho lúa ở ĐBSCL trên cơ sở đó cung cấp thêm các dữ liệu phục vụ cho việc cung cầu phân lân cho lúa vùng phù sa của ĐBCSL.
Nghiên cứu được thực hiện dài hạn từ vụ xuân hè 2011 tới vụ đông xuân 2014-2015 tại khu thực nghiệm của Viện Lúa ĐBSCL, Thới Lai, Cần Thơ trên đất phù sa Tây sông Hậu với cơ cấu 3 vụ lúa/năm, với kiểu bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 4 lần nhắc lại với 6 tần suất bón lân khác nhau. Nguồn P được sử dụng từ supe lân với hàm lượng P2O5 từ 16%. Mục tiêu của nghiên cứu này là (i) Xác định được hiệu lực tồn dư và cộng dồn của phân lân theo các tần suất bón trên đất 3 vụ lúa/năm vùng phù sa Tây sông
Hậu thuộc ĐBSCL. (ii) đề xuất hướng sử dụng phân lân và khả năng cung cầu phân lân cho lúa vùng phù sa của ĐBSCL.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tần suất bón lân 1 vụ bỏ 1 vụ không ảnh hưởng nhiều tới năng suất lúa của các vụ trong năm trên cơ cấu 3 vụ lúa vùng phù sa Tây sông Hậu thuộc ĐBSCL. Nếu 2 vụ liên tiếp không được bón lân mà vụ cuối rơi vào xuân hè hoặc hè thu thì năng suất đều bị giảm so với bón liên tục. Đối với trường hợp 2-4 vụ trước đó không bón lân nhưng khi bón lại dù đó là xuân hè, hè thu hay đông xuân thì năng suất vẫn đạt ngang với lô bón liên tục. Đối với vụ đông xuân, năng suất lúa chỉ giảm sau 3 vụ liên tiếp không bón lân. Lân được coi là yếu tố hạn chế chính tới năng suất lúa ở các vụ xuân hè và hè thu trên cơ cấu 3 vụ lúa vùng phù sa Tây sông Hậu thuộc ĐBSCL. Năng suất lúa giảm do không bón lân liên tục qua nhiều vụ tương ứng với các vụ xuân hè, hè thu và đông xuân là 27,7%, 27,1% và 13,6%. Năng suất cộng dồn sau 12 vụ không bón lân giảm 22,8% so với có bón lân liên tục qua các vụ. Năng suất lúa cộng dồn của các nghiệm thức bón lân qua 11 vụ (4 vụ xuân thu + 3 vụ hè thu + 4 vụ đông xuân) với vụ đầu tiên là xuân hè 2011 và kết thúc là vụ đông xuân 2014-2015 được sắp theo thứ tự sau: P (bón liên tục 12 vụ)> P (td_1 vụ > P (td_2 vụ)> P (td_3vụ) > P (td_4 vụ) > P (td_12 vụ). Tỷ lệ suy giảm năng suất lúa giữa các tần suất bón lân khác nhau so với nghiệm thức bón lân liên tục qua các vụ theo thứ tự: P (td_1 vụ) < P (td_2 vụ) < P (td_3vụ) < P (td_4 vụ) < P (td_12 vụ). |
ttncac
Theo Tạp chí Nông nghiệp số 21/2016 |