Phtoo illustration.
Tăng huyết áp trong thai kỳ là một bệnh lý toàn thân phức tạp, gây ra nhiều biến chứng nặng nề trên thai phụ và thai nhi. Các yếu tố như tuổi mẹ, tình trạng béo phì, tiền căn bản thân và gia đình tăng huyết áp đều có liên quan đến tăng huyết áp thai kỳ. Mô tả cắt ngang, ước tính một tỷ lệ, phân tích các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp, xác định các ảnh hưởng của tăng huyết áp trên mẹ và con với cỡ mẫu 1.399, thai phụ mang thai trên 20 tuần.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 142 thai phụ tăng huyết áp, chiếm 10,2% trong tất cả thai phụ. Trong đó, tiền sản giật 41,5% và tăng huyết áp do thai chiếm 58,5%, tăng huyết áp nhẹ 47,2%, tăng huyết áp trung bình 31% và tăng huyết áp nặng 21,8%. Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp thai kỳ được xác định tuổi mẹ <25 hoặc >35 (OR:l,6, p=0,046), mang thai đôi (OR: 12,31, p—0,007), mang thai nhiều lần (OR: 1,12, p=0,780), béo phì trước mang thai (OR: 51,88;p <0,001), tiền căn bản thân tăng huyết áp thai kỳ (OR: 36,19. p <0,001) cũng như gia đình tăng huyết áp (OR: 4, 52, p <0,001) tiền căn thai lưu (OR: 1,93, P=0,070). Biến chứng cho mẹ: tiền sản giật chiếm 44,4%, sản giật 10,5%, nhau bong non 9,8%; biến chứng cho con: suy hô hấp 57,7%, thiểu ối 33,8%, thai nhẹ cân 28,5%, sinh non 26,9% và tử vong chu sinh 4,6% cao đáng kể ở những thai phụ tăng huyết áp. Tỷ lệ tăng huyết áp trong thai kỳ 10,2%, trong đó tiền sản giật 41,5% và tăng huyết áp do thai chiếm 58,5%. Các yếu tố tuổi mẹ <25 hoặc >35, mang thai đôi, béo phì trước mang thai, tiền căn bản thân tăng huyết áp thai kỳ và gia đình tăng huyết áp đều có liên quan chặt chẽ đến tăng huyết áp thai kỳ với p <0,05. Tăng huyết áp thai kỳ gây ảnh hướng nặng nề trên mẹ và con. |