Nghiên cứu [ Đăng ngày (31/03/2017) ]
Xác định loài, đặc diểm sinh học và bước đầu đánh giá hiệu quả trừ sùng khoai lang (Cylas formicarius Fabricius) trong điều kiện phòng thí nghiệm của các chủng nấm beauveria ký sinh trên côn trùng gây hại phân lập tại đồng bằng sông Cửu Long
Nấm Beauveria là một trong những tác nhân ký sinh có phổ ký chủ rộng, ký sinh gây bệnh cho nhiều loại côn trùng gây hại trong nông – lâm nghiệp. Nấm ký sinh này đã được nhiều nơi trên thế giới quan tâm nghiên cứu phát triển và ứng dụng như là một loại thuốc sinh học phòng trừ nhiều đối tượng sâu hại cây trồng, khắc phục những nhược điểm của thuốc hóa học gây ra.

Việc phân loại định danh nấm ký sinh côn trùng dựa vào đặc điểm hình thái học được xem là nền tảng, là yếu tố ban đầu để nhận biết về loài nấm Beauveria. Tuy nhiên, nghiên cứu xác định loài nấm dựa trên đặc điểm hình thái sẽ khó phân biệt được hết các loài khác nhau trong chi Beauveria.

Hơn nữa, những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, khả năng gây bệnh trên sâu hại, mối quan hệ giữa ký sinh và ký chủ cũng như quá trình hình thành bệnh trên sinh vật chủ của những chủng mới phát hiện còn ít dữ liệu hoặc chưa được đầu tư nghiên cứu. Kỹ thuật sinh học phân tử góp phần nầng cao cơ sở khoa học cho việc định danh tới loài đối với nấm ký sinh gây bệnh côn trùng. Việc xác định loài và phân tích sự biến động di truyền của các cá thể trong quần thể Beauveria trở nên dễ dàng hơn nhờ sự trợ giúp của kỹ thuật tiên tiến này. Trình tự vùng ITS-rDNA đã được sử dụng để định danh nấm Beauveria, hỗ trợ cho định danh ở cấp loài và dưới loài chính xác và nhanh chóng. Vì vậy, các nhà khoa học Huỳnh Hữu Đức và Trần Văn Hai thuộc trường ĐH Cần Thơ đã đưa ra mục tiêu nghiên cứu của thí nghiệm là xác định thành phần loài bằng phương pháp truyền thống và dựa vào trình tự vùng ITS-rDNA, đặc điểm sinh học và bước đầu đánh giá độc tính của nấm B. bassiana thu thập được.

Kết quả phân lập và định danh đã xác định 16 chủng nấm Beauveria thuộc loài Beauveria b’];assiana ký sinh trên côn trùng gây hại tại 7 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Khuẩn lạc của các chủng nấm nuôi cấy trên môi trường PDA thường có màu trắng hoặc màu trắng hơi ửng vàng khi thành thục. Các chủng nấm có đặc điểm chung bởi cuống bào tử đính mọc theo hình vòng xoắn và thành từng cụm dày đặc của cành bào đài ngắn với một bào tử đơn có dạng hình trứng (2,61 - 2,97 x 2,35 - 2,72 μm) hoặc hình cầu (2,24 - 2,28 x 2,23 - 2,24μm). Ngoài ra, kết quả so sánh mức độ tương đồng trình tự DNA vùng ITS-rDNA cho thấy các chủng nấm có sự tương đồng cao (96,6% đến 99,6%) so với những trình tự đã công bố trên Genbank. Đặc điểm sinh học của 16 chủng nấm B. bassiana cho thấy: tỷ lệ nảy mầm cao trên 94% sau 24 giờ nuôi cấy. Môi trường SDAY3 cho tốc độ phát triển đường kính khuẩn lạc nhanh và cho mật số bào tử cao (khoảng 3,42 đến 11,5 x 107 bào tử/cm2) sau 14 đến 18 ngày nuôi cấy. Bước đầu đánh giá hiệu quả các chủng nấm trắng B. bassiana cho thấy, tất cả 16 chủng nấm đều có hiệu quả trừ sùng khoai lang (Cylas formicarius Fabricius) cao, đạt trên 94% tỷ lệ sùng chết sau 11 ngày xử lý trong điều kiện phòng thí nghiệm.

ntbtra
Theo Tạp chí Khoa học Trường ĐHCT- Số chuyên đề Nông nghiệp -2016)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này