Nghiên cứu
[ Đăng ngày (16/07/2016) ]
|
|
Xác định tỷ lệ thừa cân béo phì và các yếu tố liên quan trên học sinh tiểu học quận 8, TP. Hồ Chí Minh
|
|
|
Nghiên cứu do Đặng Thế Hệ, Lê Văn Hà - TT Y tế dự phòng quận 8, TP. Hồ Chí Minh; Trần Thị Thanh Ngân - Bệnh viện Từ Vũ, TP. Hồ Chí Minh và Trần Thiện Thuần - Đại học Y Dược, TP. Hồ Chí Minh thực hiện.
|
Béo phì được xem là một yếu tố nguy cơ quang trọng gây rối loạn dung nạp glucose như đái tháo đường type 2, tăng insulin máu, rối loạn chuyển hóa lipide, tăng nguy cơ bệnh tim mạch, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh hô hấp, viêm xương khớp, sỏi mật và một số bệnh ung thư.
Quận 8 là một quận nội thành vùng ven, có tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhanh, sự thay đổi lối sống hiện đại ảnh hưởng đến tình trạng thừa cân béo phì chung và ở trẻ em là không thể tránh khỏi. Hệ quả của những thay đổi này được phản ánh qua hành vi lối sống đã thay đổi về ăn uống và hoạt động thể chất. Bữa ăn của trẻ em chứa nhiều năng lượng hơn trong khi mức độ hoạt động thể lực giảm. Các tiệm ăn nhanh mọc lên như nấm và luôn đông khách. Trẻ em từ 5-19 tuổi tiêu thụ lượng thức ăn nhanh rất lớn. Những loại thức ăn này chứa hàm lượng chất béo, lượng đường rất cao. Nhằm cung cấp một bức tranh tổng thể về tình trạng thừa cân béo phì và những yếu tố liên quan là cơ sở khoa học để lập kế hoạch y tế, chiến lược dự phòng cũng như những mô hình can thiệp phù hợp với điều kiện cụ thể tại quận.
Phương pháp nghiên cứu cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ thừa cân béo phì trên học sinh tiểu học ở quận 8, năm 2014 và một số yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân béo phì bằng bộ câu hỏi soạn sẵn cho phụ huynh tự điền, trực tiếp cân đo trẻ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức, thái độ của phụ huynh về thừa cân béo phì. Nghiên cứu này giúp cho nhà quản lý có số liệu cụ thể về tỷ lệ thừa cân béo phì, những trẻ có nguy cơ trong cộng đồng địa phương. Từ đó, giúp ích trong việc triển khai kế hoạch hoạt động giám sát và hướng dẫn, tuyên truyền về phòng ngừa thừa cân béo phì cho học sinh quận 8. |
ttncac
Theo Tạp chí Y học thực hành số 3 năm 2016 |