Nghiên cứu [ Đăng ngày (29/11/2015) ]
Tương quan giữa một số dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm AFP và đặc điểm ung thư biểu mô tế bào gan trên cộng hưởng từ
Nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm tác giả Huỳnh Quang Huy, Đào Văn Long – Bệnh Viện Bạch Mai.

Ung thư biểu mô tế bào gan (UBTG) là một bệnh lý ác tính khá phổ biến của hệ tiêu hóa. Theo thống kê của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ năm 2008 ung thư gan là ung thư phổ biến, đứng hàng thứ 6 ở nam giới và hàng thứ 7 ở nữ, với tần suất nam/nữ là 2,4; có tỉ lệ tử vong cao đứng hàng thứ 2 ở nam và thứ 6 ở nữ trong các loại ung thư nói chung.

Ở Việt Nam, ung thư biểu mô tế bào gan là loại ung thư phổ biến trên cả nước. Theo nghiên cứu của Trần Văn Huy ung thư biểu mô tế bào gan đứng hàng thứ hai sau ung thư dạ dày nhưng lại là ung thư tiêu hóa phổ biến nhất ở nam giới.

Ung thư biểu mô tế bào gan nếu phát hiện muộn tiên lượng bệnh rất xấu, tỷ lệ tử vong rất cao và tử vong trong một thời gian ngắn kể từ khi phát hiện được bệnh. Các phương tiện thăm dò hình ảnh như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính và đặc biệt là cộng hưởng từ đã giúp cho việc chẩn đoán sớm và chính xác các tổn thương ung thư biểu mô tế bào gan. Từ đó định hướng cho việc lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp cũng như theo dõi tình trạng sau điều trị. Nghiên cứu với mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm của UBTG và Xác định mối tương quan giữa một số dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm AFP với số lượng và kích thước khối u.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 167 bệnh nhân được chẩn đoán UBTG dựa vào Kết quả GPB chẩn đoán UBTG, hoặc AFP cao > 400 ng/ml + khối u có hình ảnh chụp cộng hưởng từ (CHT) điển hình của UBTG. Nghiên cứu mô tả cắt ngang: mối tương quan giữa một số dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm AFP và đặc điểm ung thư biểu mô tế bào gan trên cộng hưởng từ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tuổi chẩn đoán trung bình 58,5 ± 10,7 tuổi. Nam mắc bệnh nhiều hơn nữ. 77 lệ nam/nữ = 8,28/1. Triệu chứng lâm sàng: chân ăn (62,9%), đau hạ sườn phải  (HSP) (54,5%), đầy bụng khó tiêu (34,7%), sụt cân (34,1%). Các triệu chứng chiếm tỉ lệ ít như tiểu vàng (13,8%), đau thượng vị (7,8%), vàng da, kết mạc mắt vàng (tương ứng 3,6% và 9,6%). Các xét nghiệm SGOT, SGPT tăng nhẹ so với bình thường. Billirubin trong giới hạn bình thường. AFP tăng với các mức độ: AFP <100 ng/ml chiếm 54,3%. AFP tăng >400 ng/ml chiếm 32,5%. Trung vị AFP 50,0 (7,5 - 790,5) ng/ml. Tương quan giữa nồng độ AFP với số lượng khối u có ý nghĩa thống kê (tương quan thuận mức độ yếu với r = 0,239, p<0,01). Tương quan giữa nồng độ AFP với đường kính khối u lớn nhất có ý nghĩa thống kê (tương quan thuận, mức độ trung bình với r = 0,413; p<0,001). Triệu chứng đau HSP có liên quan với đường kính khối u (khi đường kính khối u lớn nhất >3,8 cm). Triệu chứng lâm sàng, mức độ tăng AFP có tương quan với số lượng và kích thước khối u.

 

tbminh
Theo Tạp chí Y học Số 10/2015
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này