Trữ lạnh phôi là một kỹ thuật không thẻ thiếu của một trung tâm hỗ trự sinh sản hoàn chỉnh. Hai phương pháp trữ lạnh phôi được sử dụng nhiều nhất hiện nay trong thụ tinh ống nghiệm trên người là hạ nhiệt độ chậm (slow-freezing) và thuỷ tinh hoá (vitrification). Sự khác biệt cùa hai phương pháp này là ở tốc độ hạ nhiệt và nồng độ chất bảo quản (CPA).
Trong phương pháp hạ nhiệt độ chậm, mẫu tế bào được làm lạnh với tốc độ hạ nhiệt chậm (1-30C/1 phút) từ nhiệt độ sinh lý xuống nhiệt độ rất thấp (khoảng - 800C) trước khi đưa mẫu vào lưu trữ trong ni - tơ lỏng. Ngoài ra, tốc độ rã đông cũng diễn ra chậm, quá trình xâm nhập và loại bỏ các chất bảo vệ đông lạnh được diễn ra qua nhiều bước nhỏ.
Trong kỹ thuật thủy tinh hóa, hai yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành công của kỹ thuật là nồng độ của các CPA sử dụng và tốc độ hạ nhiệưlàm ấm (Vajta và Nagy, 2006). Để có thể chuyển một lượng môi trường có chứa phôi từ dạng lòng thành dạng "kính", các CPA cần phải được sử dụng ở nồng độ rất cao. Trong một khoảng thời gian dài sau khi được giới thiệu, thủy tinh hóa vẫn được xem là một kỹ thuật mang tính thử nghiệm vì nhiều lý do. Trong đó, lo ngại về các độc tính có thể có của việc sử dụng CPA nồng độ cao trên phôi, và khó khăn trong việc thiết lập một hệ thống làm lạnh với tốc độ cao là những trở ngại chính.
Đây là báo cáo đánh giá hiệu quả sau chuyển phôi ngày 2 - ngày 3 đông lạnh theo phương pháp đông lạnh chậm, tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương với 2 mục tiêu: đánh giá chất lượng phôi sau rã đông và tỷ lệ có thai và diễn tiến thai kỳ sau chuyển phôi ngày 2 đông lạnh theo phương pháp đông lạnh chậm và Đánh giá chất lượng phôi sau rã đông và tỷ lệ có thai và diễn tiến thai kỳ sau chuyển phôi ngày 3 đông lạnh theo phương phắp đông lạnh chậm.
Đây là nghiên cửu mô tả hồi cứu về tỷ lệ phôi sống sau rã đông, tỷ lệ có thai và diễn biến thai kỳ sau chuyển phôi ngày 2 - ngày 3 đông lạnh theo phương pháp đông lạnh chậm và tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 1 năm 2015.
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
So sánh tỷ lệ phôi sống, tỷ lệ có thai, tỷ lệ đẻ con sống, sau chuyển phôi đông lạnh chậm giữa 2 nhóm phôi ngày 2- ngày 3 là không có sự khác biệt.
Tỷ lệ phôi sống và tỷ lệ phôi có các phôi bào sống nguyên vẹn sau rã đông khi sử dụng phương pháp đông lạnh chậm là khá thấp. Hơn nữa số liệu cũng cho thấy rằng tỷ lệ phôi thoái hoá hoàn toàn và số chu kỳ không có phôi chuyển do toàn bộ số phôi trữ bị thoái hoá là cao. Chính vì vậy, số lượng phôi rã đông trong mỗi chu kỳ chuyển phôi đông là Khá cao.
Tỷ lệ có thai sau chuyển phôi đông lạnh chậm khá thấp (12,1% -15,4%). Do vậy, hiện nay tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản- Bệnh viện Phụ sản Trung ương áp dụng trữ phôi theo phương pháp thuỷ tinh hoá thay thế dần phác đồ đông lạnh chậm cổ điển đang được thực hiện với mong muốn nâng cao hiệu quả lâm sàng, tiết kiệm thời gian và chi phí. Hiệu quả của phương pháp thuỷ tinh hoá sẽ được báo cáo ở nghiên cứu sau. |