Xuất huyết tiêu hóa (XHTH) do vỡ tĩnh mạch thực quản giãn (TMTQG) là biến chứng thường gặp của hội chứng tăng áp tĩnh mạch cửa (TATMC) ở bệnh nhân xơ gan và có tỉ lệ tử vong cao 30-70%. Những bệnh nhân xơ gan có TMTQG không có XHTH do vỡ TMTQG trước đó, khi được theo dõi trong 2 năm và không có điều trị dự phòng thì khả năng XHTH do TMTQG là 25-40%. Vì vậy điều trị dự phòng tiên phát XHTH do vỡ TMTQG rất quan trọng, điều này có thể làm giảm nguy cơ biến chứng, chi phí điều trị và tỉ lệ tử vong do vỡ TMTQG.
Thắt TMTQG là phương pháp điều trị qua nội soi đựợc chỉ định trong điều trị XHTH do vỡ TMTQG đang tiến triển và điều trị dự phòng XHTH tái phát do vỡ TMTQG. Một số nghiên cứu cho thấy thắt TMTQG có tỉ lệ cầm máu cao hơn, tỉ lệ XHTH tái phát và biến chứng thấp hơn, số đợt điều trị cần thiết để triệt tiêu TMTQG ít hơn so với chích xơ TMTQG. Vì những ưu điểm đó, thắt TMTQG được xem là phương pháp điều trị dự phòng hứa hẹn cho dự phòng tiên phát XHTH do vỡ TMTQG.
XHTH thường gặp trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam, ở Bệnh viện Chợ Rẫy trong 2 năm gần đây 2010- 2011 có khoảng 1.415 trường hợp XHTH trên nhập viện cấp cứu trong đó có khoảng 30% do vỡ TMTQG và khoảng 70% do loét dạ dày tá tràng. Tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, trong 2 năm 2011- 2012 có khoảng 180 bệnh nhân được chẩn đoán xơ gan nhập viện, 844 trường hợp XHTH trên trong đó 135 (15,9%) XHTH dọ vỡ TMTQG được điều trị cầm máu cấp cứu bằng thắt vòng cao su qua nội soi và 709 ca (84,1%) do loét dạ dày tá tràng. Hiện tại, Bệnh viện Đồng Tháp vẫn chưa có nghiên cứu về đánh giá hiệu quả của điều trị dự phòng tiên phát XHTH do vỡ TMTQG ở bệnh nhân xơ gan. Qua những lý do trên đề tài tiến hành so sánh hiệu quả điều trị dự phòng tiên phát XHTH do vỡ TMTQG bằng 3 phương pháp: thắt TMTQ, thuốc ức chế beta không chọn lọc (PPL) và thắt TMTQ kết hợp propranolol ở bệnh nhân xơ gan.
Nghiên cứu được thực thiện bằng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích ở bệnh nhân nội, ngoại trú từ 16 - 75 tuổi có bằng chứng xơ gan trên lâm sàng và cận lâm sàng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 150 bệnh nhân. Nhóm tuổi gặp nhiều nhất là 50-59 (39,3%) đa số do rượu (67,3%) và siêu vi B (46,7%). Tỉ số TC/KTL = 693 ± 209,84 và KTGP/ALB - 4,15 ± 1,55. Có sự khác biệt giữa các nhóm về nguyên nhân (HBV), mức độ TMTQG, điểm Child, TC/KTL và thời gian theo dõi. Có sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian XHTH tiên phát ở 3 nhóm; nhóm 3 có thời gian XHTH tiên phát chậm hơn nhóm 1 và nhóm 2 (p-0,04). Sau hơn 12 tháng theo dõi chúng tôi nhận thấy, phương pháp thắt TMTQG kết hợp PPL tỏ ra hiệu qua hơn so với phương pháp thắt TMTQG hoặc dùng propranolol đơn độc, tương đương mỗi nhóm là (6,0%; 18,0%; 20,0%). So với thắt TMTQG thì propranolo có vẽ kém hiệu quả hơn. |