Suy hô hấp (SHH) là một hội chứng rất hay gặp trong thời kỳ sơ sinh, nhất là trong những ngày đầu sau sinh, trong thời gian trẻ tập thích nghi với môi trường bên ngoài. Trước đây do những hạn chế trong việc điều trị nên tỷ lệ tử vong do bệnh còn khá cao, đồng thời những trẻ sống sót thì để lại nhiều di chứng nặng nề như loạn sản phổi, xuất huyết não - màng não,.... Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, nhờ những tiến bộ y học được áp dụng trong công việc phòng cũng như điều trị đã làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc, mức độ nặng và tử vong của bệnh. Một trong những tiến bộ đó là việc sử dụng liệu pháp surfactant thay thế kết hợp với thông khí cơ học dựa trên những hiểu biết về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh. Việc áp dụng surfactant trong việc điều trị bệnh màng trong đã được áp dụng và nghiên cứu thành công lần đầu tiên bởi tác giả Fujiwara người Nhật Bản năm 1980 với chế phẩm surfactant chiết xuất từ bò.
Tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, do giá thành surfactant rất cao, bảo hiểm y tế không thanh toán chí phí điều trị nên trước đây việc áp dụng kỹ thuật này vào điều trị tại bệnh viện còn rất hạn chế và cần sự hỗ trợ từ Bệnh viện Nhi Đồng 1. Năm 2014, sau đợt thẩm định về các danh mục kỹ thuật được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp đủ tiêu chuẩn để thực hiện kỹ thuật bơm surfactant điều trị bệnh màng trong ở trẻ sinh non và chi phí điều trị được bảo hiểm y tế thanh toán. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả của surfactant trong điều trị bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh non tháng tại khoa Hồi sức Nhi-Sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp.
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp mô tả, hàng loạt ca trẻ sơ sinh non tháng được bơm surfactant điều trị bệnh màng tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp trong năm 2014
Kết quả nghiên cứu cho thấy: kết quả bơm surfactant cho 10 trẻ sơ sinh non tháng bệnh màng trong trong thời gian tháng 4/2014 đến tháng 8/2014. Tỷ lệ nam chiếm 70%, đa số sinh thường 80%, tuổi thai và cân nặng trung bình lần lượt là 31,9 tuần và 1770 gram. Ngay trước bơm surfactant 100% trường hợp có biểu hiện suy hô hấp nặng. Tỷ lệ bà mẹ được sử dụng Steroids trước sinh 0%. Tuổi lúc bơm surfactant trung bình 8,3 giờ. 100% trường hợp bơm surtactant 1 lần với liều surtactant sử dụng trung bình 113,4 mg/kg/lần. Sau điều trị surfactant, tổn thương bệnh màng trong trên phim X-Quang phổi cải thiện rõ rệt. Điều trị surfactant làm giảm nhu cầu oxy (Fi02 từ 63% xuống còn 34,8% ngay sau 1 giờ và giảm xuống 24,7% sau 48 giờ). Điều trị surfactant làm tăng chỉ số a/AP02 từ 0,18 tăng lên 0,53 sau 1 giờ và duy trì ổn định sau 48 giờ điều trị, phản ánh sự cải thiện quá trình trao đổi khí ở phổi. Sau điều trị surfactant, giá trị PIP và MAP giảm phàn ảnh sự cải thiện độ đàn hồi của phổi. Điều trị surfactant làm giảm thời gian thở máy và giảm tỷ lệ tử vong của bệnh. Không ghi nhận tràn khí màng phổi, xuất huyết phổi, chậm nhịp tim, xuất huyết não, còn ống động mạch, bệnh lý võng mạc ở trẻ sinh non. Tỷ lệ hạ huyết áp 10%, nhiễm khuẩn huyết 16,7%, loạn sản phế quản phổi 11,1%. Sử dụng surfactant ở trẻ sơ sinh non tháng bệnh màng trong làm cải thiện đáng kể chức năng phổi, giảm mức độ nặng của bệnh, giảm thời gian thở máy và giảm tỷ lệ tử vong của bệnh. |