Nghiên cứu
[ Đăng ngày (04/10/2015) ]
|
|
Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh viêm nhiễm đường sinh dục của phụ nữ nông thôn miền núi; Độ tuổi sinh đẻ có chồng tại tỉnh Thái Nguyên.
|
|
|
Nghiên cứu do các tác giả Nông Thị Thu Trang – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Đàm Khải Hoàn – Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên và Nguyễn Đức Hinh – Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nhằm đánh giá thức, thái độ, thực hành (KAP) phòng chống bệnh VNĐSD của phụ nữ độ tuổi 18-49, có chồng tại tỉnh Thái Nguyên năm 2013.
|
Viêm nhiễm đường sinh dục (VNĐSD) là một trong những bệnh hay gặp ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ trên thế giới. Bệnh gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe sinh sản và chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng 50% phụ nữ tuổi sinh đẻ trên thế giới bị VNĐSD, tập trung ở các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, mặc dù hệ thống chăm sóc khỏe sinh sản (trong đó có hoạt động phòng chống VNĐSD) đã không ngừng được củng cố và phát triển, nhưng tỉ lệ hiện mắc VNĐSD vẫn chiếm tương đối cao (40 - 80% theo tùng nghiên cứu). Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng VNĐSD nhưng yếu tố hàng đầu là do kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) phòng chống bệnh của phụ nữ còn chưa cao. Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi, đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, trình độ dân trí của người nông dân ở mức chưa cao. Do đó có thể kiến thức phòng chống bệnh VNĐSD ở phụ nữ còn hạn chế.
Nghiên cứu được tiến hành từ 01/01/2012 - 30/12/2012 ở các phụ nữ nông thôn, miền núi có chồng trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15-49 tuổi) tại các huyện: Đổng Hỷ, Phổ Yên và Võ Nhai, Thái Nguyên bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Từ đó cho thấy: Trong tổng số 1.200 phụ nữ, phần lớn phụ nữ từ 25-34 tuổi (43,4%), có nghề nghiệp làm ruộng (64,7%); hơn một nửa (53,3%) có trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống. Tỉ lệ phụ nữ có kiến thức phòng chống VNĐSD tốt chiếm 19,5%; kiến thức trung bình la 21,8% và kiến thức yếu là 58,8%. Tỉ lệ phụ nữ có thái độ tốt là 60,5% và chưa tốt là 39,5%. Tỉ lệ phụ nữ có thực hành tốt là 20,0% và chưa tốt là 80,0%. Kết luận: Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống VNĐSD ở phụ nữ nông thôn miền núi độ tuổi sinh đẻ có chồng chưa cao. |
ttncac
Theo Tạp chí Y học Số 2/2015 |