Nghiên cứu
[ Đăng ngày (28/06/2015) ]
|
|
Nghiên cứu giá trị của chụp mạch vành bằng MSCT 640 lát cắt trong chẩn đoán bệnh viện mạch vành mạn.
|
|
|
Nghiên cứu được thực hiện do các tác giả Đỗ Quang Huân và Hoàng Thọ và Khánh Toàn - Viện tim TP.HCM thực hiện nhằm mục tiêu chụp cắt lớp điện toán đa lát cắt (MSCT) động mạch vành (ĐMV) đã trở thành một phương pháp hữu dụng trọng việc chẩn đoán bệnh động mạch vành mạn.
|
Bệnh lý bệnh động mạch vành xảy ra khi các mạch máu nuôi cơ tim bị tổn thương gây thiếu máu cơ tim mà nguyên nhân thường gặp là hẹp do mảng xơ vữa. Bệnh động mạch vành là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới, chụp động mạch vành chọn lọc bằng DSA là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh động mạch vành do khảo sát được toàn bộ và chính xác hệ thống mạch máu nuôi tim trên hình ảnh. Tuy nhiên, phương pháp này có chi phí cao và xâm lấn đối với bệnh nhân nên không phù hợp với nhiều bệnh nhân. Từ năm 2004, thế giới đã nghiên cứu về MSCT 64 lát cắt động mạch vành và thấy giá trị chẩn đoán cao. Năm 2010, thế hệ máy MSCT 640 lát cắt ra đời và được kì vọng sẽ cải thiện được giá trị chẩn đoán so với các thế hệ máy trước đây.
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp thu thập dữ liệu từ 50 bệnh nhân tham gia nghiên cứu (26 bệnh nhân nam, tuổi trung bình 62 + 10 tuổi) được chụp mạch vành bằng cả 2 phương pháp: chụp mạch vành bằng MSCT 640 lát cắt và chụp mạch vành chọn lọc bằng DSA. Kết quả chụp mạch vành bằng MSCT 640 lát cắt được đánh giá bởi một bác sĩ chuyên khoa hình ảnh sau đó được so sánh với kết quả chụp mạch vành chọn lọc bằng DSA do một bác sĩ thông tim can thiệp đọc, hai nhóm bác sĩ không biết kết quả của nhau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ nhạy, độ chuyên, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm và độ chính xác trong việc phát hiện hẹp lòng mạch vành ở mức độ >50% ở cấp độ đoạn ĐMV là 85,' 97, 91, 96 và 95%, còn ở cấp độ bệnh nhân là 100, 50, 96, 100 và 96%. Giá trị chẩn đoán ở mức độ hẹp >70% ỏ cấp độ đoạn ĐMV là 72, 98, 90, 95 và 94%. |
ttncac
Theo Tạp chí Y học thực hành số 02 năm 2015 |