U trung thất (UTT) bao gốm các khối u nguyên phát hoặc thứ phát, ác tính hoặc lành tính phát sinh ở vùng trung thất, gặp ở mọi lứa tuổi với nhiều nguyên nhân khác nhau chiếm 90% bệnh lý trung thất. UTT bắt nguồn từ mô của một đến ba lá thai (ngoại bì, trung bì và nội bì) nằm lạc chỗ, phát triển chậm, tiềm tàng trong một thời gian dài ở trung thất. Khi u chưa to tới mức gây chèn ép trong lồng ngực hoặc chưa thoái hóa ác tính thì không xuất hiện những triệu chứng lâm sàng làm bệnh nhân lo ngại. Do vậy, UTT có thể tồn tại nhiều năm và có khi phát hiện được là do tình cờ chụp XQ ngực vì lý do khám sức khỏe định kỳ hoặc đi khám một bệnh lý khác có chụp XQ ngực. Khi UTT đã được xác định thì phẫu thuật cắt u là phương pháp điều trị chủ yếu, có thể mổ nội soi hoặc mổ mở. Nếu trì hoãn u sẽ tiếp tục phát triển gây chèn ép và tỉ lệ thoái hóa ác tính cao. Phẫu thuật cắt UTT là phẫu thuật khó, đặc biệt với khối u kích thước lớn, nằm ở vị trí nguy hiểm, xâm lấn vào các thành phần lân cận của trung thất như mạch máu, tim, phổi. UTT ở các vị trí khác nhau lại có đặc điểm bệnh học cũng như biểu hiện lâm sàng khác nhau.
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp mô tả cắt ngang bệnh nhân (BN) mổ UTT từ 8/2010 đến 8/2013 tại khoa Phẫu thuật Tim mạch-Lồng ngực BV Việt Đức điều trị 179 BN. Kết quảnghiên cứu cho thấy: 80 BN đủ tiêu chuẩn nghiên cứu với tuổi trung bình 39,8±17,5; tỷ lệ nam/nữ: 1,2; có biểu hiện lâm sàng 90%; hay gặp nhất là đau ngực 73,8%. Đặc điểm chung khối u: thấy rõ trên XQ ngực thường quy 77,6%; ỏ trung thất trước 60%; u tuyến ức 43,8%, u thần kinh và u tế bào mầm đều 16,3%, trên CT u ngấm thuốc cản quang 85,3%; kích thưởc trung bình u 7,71 cm; u ác tính 43,8%. Tỷ lệ mổ mỏ: 68,8%; mổ nội soi 31,2%, cắt hết u: 83,8%; biến chứng phẫu thuật 11,2%, tử vong sau mổ 1,3%. Kết luận: UTT đa dạng về triệu chứng, bản chất tế bào học, tuy nhiên việc chẩn đoán chỉ cần dựa vào XQ,CT. Phẫu thuật là điều trị cơ bản vì khả năng cắt toàn bộ u cao và UTT có nguy cơ ác tính. |