Hiện nay ở nước ta, keo đang là loài cây chủ lực trong trồng rừng công nghiệp cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ. Tổng diện tích rừng trồng keo của cả nước hiện nay khoảng 1,1 triệu ha với chu kỳ kinh doanh ngắn 6 - 8 năm và có xu hướng ngày càng tăng (Nambiar & Harwood, 2014). .Tuy nhiên, trong kinh doanh rừng trồng hiện nay, có xu hướng suy giảm năng suất rừng sau nhiều chu kỳ kinh doanh.
Xu hướng giảm năng suất rừng trồng qua một số chu kỳ kinh doanh đang là một yêu cầu thục tiễn cần nghiên cứu giải quyết nhằm phát triển lâm nghiệp bền vững ở Việt Nam. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 5 lần lặp lại, gồm 3 công thức thí nghiệm là: (Fl) lấy đi toàn bộ để lại vật liệu hữu cơ sau khai thác (VLHCSKT) chu kỳ 1 và 2; (Fm) VLHCSKT chu kỳ 1 & 2 và (Fh) để lại gấp đôi VLHCSKT chu kỳ 1, để lại VLHCSKT ở chu kỳ 2 và có bón lót 300 g supe phốt phát đơn/cây 16,5% P205 (tương đương 36 kg p/ha). Mật độ trồng rừng 1.667 cây/ha. Kết quả cho thấy, để lại VLHCSKT đã làm tăng tỷ lệ sống, sinh trưởng, năng suất và sinh khối rừng trồng keo lá tràm ở các chu kỳ sau. Mặc dù tuổi rừng ở chu kỳ sau thấp hon so vói chu kỳ trước, nhưng sau 5 năm rừng trồng ở CK3, thi nghiệm thức Fh là tốt nhất, có trữ luợng 185,6 m3/ha, vượt 2,8% so với CK2 180,4 m3/ha. Năng suất rừng (MAI) ở CK3 nghiệm thức Fh đạt 37,1 m3/ha/năm so vói 30,1 m3/ha/năm ở CK2, đây là một bước cải thiện rất lớn về năng suất rừng trồng. Sinh khối rừng ở CK3 tương đương với CK2 mặc dù tuổi rừng thấp hơn 1 năm. Sinh khối khô trên mặt đất của nghiệm thức Fh đạt 142,8 tấn/ha, vượt 10,2% so với Fm (129,5 tấn/ha) và vượt 17,6% so với nghiệm thúc đối chứng F1 (121,5 tấn/ha). Như vậy, để lại VLHCSKT đã góp phần cải thiện độ phi của đất và nâng cao năng suất rừng trồng keo lá tràm ở các chu kỳ sau trên đất xám phát triển trên phù sa cổ ở tỉnh Bình Dương. |