Nông - Lâm - Ngư nghiệp
[ Đăng ngày (19/12/2013) ]
|
|
Tận dụng bùn đáy ao nuôi cá thác lác (Notopterus notopterus) với bio-floc để sản xuất phân hữu cơ – vi sinh và ứng dụng trên rau ăn lá ở tỉnh Hậu Giang
|
|
|
Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Tuấn Kiệt, Bùi Thị Trúc Linh và Nguyễn Chính Tính - Trường Đại học Cần Thơ; và Cao Ngọc Điệp thuộc Viện Nghiên cứu & Phát triển Công nghệ sinh học - Trường Đại học Cần Thơ thực hiện nhằm mục tiêu xử lý nước - bùn ao nuôi cá thác lác, tận dụng nguồn bùn ao sau khi xử lý và xác bã thực vật (rơm rạ) để sản xuất phân HCVS và đánh giá hiệu quả phân HCVS trên 3 loại rau ăn lá (cải xanh, mồng tơi, rau muống) trồng trên đất phù sa trong tỉnh Hậu Giang.
|
Quy trình xử lý chất thải ao cá thác lác gồm ba giai đoạn: sử dụng bio-floc và bèo cám xử lý nước-bùn đáy ao, tận đụng bùn sau xử lý để sản xuất phân hữu cơ - vi sinh (HCVS) và đánh giá hiệu quả phân HCVS trên rau ăn lá trồng trên đất phù sa Vị Thanh, Hậu Giang. Với bio-floc vả bèo cám, nưóc-bùn có tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và nhu cầu oxy hoá học (COD) giảm đáng kể, trong đó lượng COD giảm ngay khi ở giai đoạn đầu sử dụng bio-floc; nitơ tổng (TKN) và phốt pho tổng (TP) giảm nhanh ở giai đoạn bèo cám.
Để sản xuất phân hữu cơ đã xác định được tỷ lệ phối trộn nguyên vật liệu thích hợp là 2 kg bùn đáy ao cá: 8 kg xác bã thực vật + chế phẩm Tricô - ĐHCT; phân hữu cơ đã chín (hoai), tiếp tục đưọc ủ với vi sinh vật có ích (vi khuẩn cố định đạm và vi khuẩn hoà tan lân) trong 1 tuần và kết quả đạt được là phân hữu cơ-vi sinh có những đặc tính sau: pH trung tính; tỉ lệ C/N, P dễ tiêu và K trao đổi trung bình; mật số vi khuẩn có ích >107 CFU/g, không phát hiện Coliforms và Salmonella trong phân HCVS. Thử nghiệm phân HCVS trên rau ăn lá, cho thấy bón 1 tấn/ha phân HCVS với 50% phân hóa học NPK cho năng suất tương đương với bón 100% phân hóa học NPK nhưng phẩm chất rau xanh được cải thiện thông qua hàm lượng nitrat thấp hơn nghiệm thức bón 100% phân hóa học, tiết kiệm được 50% phân hóa học nhưng độ phì đất sử dụng phân HCVS không thay đổi so với trước khi trồng.
Qua kết quả nghiên cứu đã đạt được, nhóm tác giả đã đề nghị mở rộng mô hình này rộng rãi cho nông dân ứng dụng để hạn chể sự ô nhiễm môi trường đồng thời sản xuất được rau an toàn. |
ttncac
Theo Tạp chí NN&PTNT, số 20/2013 |