Nghiên cứu [ Đăng ngày (14/12/2013) ]
Nghiên cứu điều chế kojic dipalmitat. Phần 1: Sàng lọc chủng Aspergillus oryzae và nghiên cứu điều kiện lên men thu nhận acid kojic
Nghiên cứu do nhóm tác giả Trương Phương, Trần Cát Đông, Nguyễn Tri Thành – Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh thực hiện nhằm nghiên cứu điều chế kojic dipalmitattạo, tạo nguồn nguyên liệu trong nước cho sản xuất dược phẩm, sàng lọc được chủng A. oryzae ở Việt Nam có khả năng sinh acid kojic cao và sản phẩm acid kojic cho công nghiệp dược.

Ảnh minh họa

Các tác giả đã tiến hành thu thập mẫu từ tự nhiên ở những vị trí, điều kiện sống khác nhau nhằm thu một lượng lớn chủng vi nấm. Đặt mẫu cơm, bánh mì ở những địa điểm khác nhau trong khu vực TP. Hồ Chí Minh (Quận Bình Thạnh, Quận Gò Vấp, Quận 1, Quận Thủ Đức), để quá trình nhiễm mốc diễn ra tự nhiên. Tiến hành phân lập bằng cách pha loãng các mẫu nhiễm mốc trong NaCI 8.5% có bổ sung Tvveen 80 nồng độ 0,1%. Trải huyền dịch pha loãng lên thạch PDA (Potato Dextrose Agar), chọn các khuẩn lạc đặc trưng của Aspergiiỉus oryzae (có màu vàng lục hoặc vàng hoa cau). Cấy các chủng sau phân lập lên thạch Czapek-Dox, quan sát đặc điểm khuẩn lạc và hình thể dưới kính hiển vi, so sánh với chủng A. oryzae chuẩn, định danh theo khóa phân loại của Raper và Fennell151. Khảo sát khả năng sinh aflatoxin, là độc tố nấm, có khả năng gây ung thư, sản sinh bởi một số loài thuộc chi Aspergillus, đáng chú ý nhất là A. flavusA. parasiticus. Khảo sát khả năng sinh acid kojic, thành phần môi trường nuôi cấy glucose 100 g/l, cao nấm men 2.5 g/l. K2HPO4 1,0 g/1 và MgS04 0,5 g/l. Lên men ở điều kiện nhiệt độ 30oC, tốc độ lắc 200 vòng/phút, thời gian 14-16 ngày. Khảo sát đường cong sinh trưởng của chủng vi nấm đã chọn. Tiến hành lên men theo quy trình, mỗi ngày lấy mẫu định lượng nồng độ acid kojic trong môi trường, đồng thời, ly tâm thu sinh khối, sấy khô ở nhiệt độ 70°C  đến khi trọng lượng không đổi. Tối ưu hóa điều kiện lên men, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men. Trong nghiên cứu này, chỉ tiến hành khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ, nguồn carbon, nguồn nitơ, thời gian lên men trên sản lượng acid kojic. Lần lượt thay đổi từng yếu tố một để đánh giá tác động của yếu tố đó. Định lượng acid kojic phản ứng với Fe3* tạo phức màu đỏ có bước sóng hấp thu cực đại. Đo độ hấp thu của dung dịch thu được.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, từ môi trường tự nhiên ở TP. Hồ Chi Minh, phân lập và sàng lọc thành công chủng A. cryzae 4F có khả năng sinh acid kojic với số lượng cao. Quy trình lên men thu acid kojic được tối ưu hóa bằng phần mềm MODOE 5.0. Quy trình xây dựng đơn giản, phù hơp với điều kiện Việt Nam. Sản phẩm đã được tinh chế, xác định độ tinh khiết và cấu trúc bằng sắc ký lớp mỏng, đo phổ UV. IR. MS. NMR.

dtphong
Theo Tạp chí Dược học, số 8/ 2013
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này