Nghiên cứu [ Đăng ngày (10/12/2013) ]
Điều tra tính đa dạng sinh học cây đại bi (Blumea balsamifera (L.) DC) cho nguồn borneol ở miền Bắc Việt Nam
Nghiên cứu do nhóm tác giả Trần Thị Oanh – Vụ Khoa học và Đào tạo – Bộ Y tế, Trần Văn Ơn và Nghiêm Đức Trọng – Trường Đại học Dược Hà Nội thực hiện nhằm xác định thành phần và hàm lượng các chất trong tinh dầu của một sống giống cây đại bi.

Ảnh minh họa

Năm mẫu được thu hái ngẫu nhiên ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, bao gồm Hà Nội, Nam Định, Hà Giang, Thái Nguyên. Các mẫu lá và cành non để phân tích hàm lượng và thành phần tinh dầu đều được thu thập trong cùng thời vụ (1-2). Mẫu tiêu bản được giám định và lưu giữ tại Phòng Tiêu bản – Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP/17816/12 đến HNNIP/17820/12). Phân tích đặc điểm hình thái bao gồm các cơ quan dinh dưỡng (thân, lá) và cơ quan sinh sản (hoa). Phân tích DNA từ lá non đại bi được phân lập theo phương pháp CTAB (Doyle and Doyle, 1987) có cải tiến. Thành phần và hàm lượng DNA được kiểm tra trên agarose gel (1,0%). DNA gốc được pha loãng đến nồng độ 5 mg/µl để phân tích RAPD 40 mồi ngẫu nhiên được sử dụng để sàng lọc đa hình. Các băng điện di có kích thước 250-2000bp. 12 mồi cho kết quả đa hình có tính lặp lại đã được lựa chọn. Định lượng tinh dầu đại bi, nguyên liệu được cắt nhỏ, cắt định lượng tinh dầu theo phương pháp cắt kéo hơi nước trong 3 giờ. Tinh dầu được tách bằng dung môi diethyl ether, làm khan bằng natrisulfat khan. Cất thu hồi dung môi và cân xác định hàm lượng tinh dầu. Hàm ẩm dược liệu được xác định theo phương pháp nhiệt độ, sử dụng máy đo hàm ẩm độ ở nhiệt độ là 50oC. Phân tích thành phần tinh dầu và hàm lượng borneol được thực hiện bằng phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC/MS) tại viện Pháp y Quân đội. Điều kiện thí nghiệm, tốc độ dòng khí He 0,9 ml/phút, nhiệt độ buồng bơm mẫu 265oC, nhiệt độ detector 280oC, nhiệt độ MS source 230oC, nhiệt độ quard 150oC.

Kết quả nghiên cứu đã xác định 5 mẫu đại bi (blumea balsamefera (L.) DC) ở 4 địa phương là Hà Nội, Nam Định, Hà Giang, Thái Nguyên gồm 3 nhóm chính, trong đó có 1 nhóm cho hàm lượng borneol cao, từ 79,85-82,23%. Hàm lượng borneol cao có thể liên quan đến DNA. Nghiên cứu này cung cấp thông tin hữu ích làm căn cứ để lựa chọn các giống đại bi để khai thác và đưa vào trồng trọt lấy borneol.

dtphong
Theo Tạp chí Dược học, số 6/ 2013
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này