Nghiên cứu
[ Đăng ngày (10/12/2013) ]
|
|
Tác dụng gây độc tế bào ung thư của dịch chiết phân đoạn và các hợp chất polyoxygencated cyclohexen từ bù dẻ tía (Uvaria grandiflora)
|
|
|
Nghiên cứu do nhóm tác giả Hồ Việt Đức, Lê Thị Bích Hiền, Nguyễn Thị Hoài – Khoa Dược, Trường Đại học Y Dược Huế, Phan Văn Kiệm – Viện Hóa sinh biển và Đỗ Thị Thảo – Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện nhằm tìm hiểu cây thuốc bù dẻ tía (Uvaria grandiflora Roxb.ex Hormen) của đồng bào dân tộc Pako, Vân Kiều, tỉnh Quảng Trị có tác dụng chữa các bệnh hiểm nghèo, đã được phát hiện và chứng minh có tác dụng gây độc tế bào ung thư mạnh phục vụ cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân.
|
Ảnh minh họa
Cây bù dẻ tía có tên khoa học là Uvaria grandiflora Roxb.ex Hormen thuộc họ Annonaceae, được thu ở huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị vào thời điểm tháng 10/2011. Thử nghiệm được tiến hành trên hai dòng tế bào ung thư là MDA-BA-321 (ung thư vú) và MKN7 (ung thư dạ dày). Các dòng tế bào ung thư do GS.TS.J.M.Pezzuto, Trường Đại học Hawaii và GS.Jeanette Maier, Trường Đại học Milan, Italia cung cấp. Dược liệu được phấy sấy khô, xay nhỏ thành bột mịn, sau đó chiết với methanol tuyệt đối bằng phương pháp ngâm lạnh (48 giờ/lần x 3 lần). Gộp dịch chiết methanol và cất thu hồi hết dung môi dưới áp suất giảm cho đến cắn thu được cao cắn toàn phần. Lấy một lượng cắn toàn phần phân tán vào nước rồi chiết xuất phân đoạn bằng các phương pháp chiết lỏng – lỏng với các dung môi n-hexan, chloroform, ethylacetat, butanol, thu được dịch chiết các phân đoạn và phần nước còn lại. Cất thu hồi hết dung môi dưới áp suất giảm thu được các cắn tương ứng. Các dòng tế bào ung thư được nuôi cấy trong môi trường DMEM với thành phần kèm theo gồm 2mM L-glutamin, 10 mM HePES, và 1,0 mM sodium pyruvat, ngoài ra bổ sung 10% FBS (fetal bovine serum) (GIBCO). Tế bào được cấy chuyển sau 3-5 ngày với tỷ lệ (1:3) và nuôi trong tủ ấm CO2 ở điều kiện 37oC, 5% CO2. Thử độ độc tế bào ung thư in vitro để xác định hàm lượng protein tế bào tổng số dựa vào mật độ quang học. Các phép thử được lập lại ba lần. Phân lập các chất tinh khiết bằng sắc ký cột silica gel pha thường. Theo dõi các phân đoạn bằng các sắc ký lớp mỏng pha thường, pha đảo. Xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được dựa trên các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều và hai chiều.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, dịch chiết các phân đoạn của cây bù dẻ tía (Uvaria grandiflora Roxb.ex Hormen, họ Annonaceae) đã được nghiên cứu hoạt tính gây độc tế bào trên hai dòng MDA-BA-321, MKN7. Kết quả dịch chiết phân đoạn chloroform thể hiện hoạt tính mạnh nhất với các giá trị IC50 lần lượt là 0,97 và 1,30µg/ml. Từ phân đoạn chloroform đã chiết xuất phân lập, xác định cấu trúc được 4 hợp chất tinh khiết thuộc nhóm polyoxygenated cyclohexen bao gồm subglain B, zeylenon, pipoxid và zeylenol. |
ntbtra
Theo Tạp chí Dược học, số 6/2013 |