Ảnh minh họa
Tuy nhiên, tại một số địa phương vẫn còn tồn tại những hạn chế, thiếu sót nhất định, tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng ô nhiễm trong thời gian tới, do đó cần có các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường gắn với yêu cầu phát triển bền vững. Trên nền tảng đó, công tác BVMT được xem là nội dung vừa bảo đảm thực hiện đúng tiêu chí NTM, vừa hướng tới cải thiện trực tiếp điều kiện sống của người dân nông thôn.
Về quan điểm chỉ đạo, Hà Tĩnh bám sát hệ thống văn bản của Đảng, Nhà nước và các quy định của tỉnh liên quan đến BVMT gắn với xây dựng NTM; đặc biệt là các quyết định phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng tỉnh đạt chuẩn NTM giai đoạn 2021–2025 và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2021–2025. Đồng thời, tỉnh cụ thể hóa thông qua bộ tiêu chí quốc gia, tiêu chí huyện NTM giai đoạn 2021–2025 và các hướng dẫn thực hiện tại địa phương, tạo cơ sở để lồng ghép nội dung BVMT như một trụ cột quan trọng trong quá trình triển khai. Kết quả đến tháng 6/2023 cho thấy Hà Tĩnh là một trong những tỉnh tiêu biểu cả nước: 177/181 xã đạt chuẩn NTM (98%), trong đó 27,6% đạt chuẩn nâng cao và 3,87% đạt chuẩn kiểu mẫu; thành quả này gắn với sự chỉ đạo đồng bộ, đồng lòng của các cấp và nhân dân, nổi bật qua các cơ chế, chính sách hỗ trợ và đầu tư cho công tác BVMT như quy định về BVMT; hỗ trợ mua xe chuyên dùng, thùng chứa rác và tập huấn phân loại rác; đầu tư cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo quy hoạch với công nghệ phù hợp; và hỗ trợ cơ sở chăn nuôi lợn chuyển vào vùng quy hoạch để bảo đảm môi trường.
Về tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường (BVMT) trong xây dựng nông thôn mới (NTM), Hà Tĩnh đã tập trung xây dựng và nâng cấp đồng bộ hạ tầng phục vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải khu vực nông thôn; đồng thời thu hút doanh nghiệp đầu tư các khu xử lý chất thải tập trung quy mô liên huyện, liên tỉnh. Bên cạnh hệ thống điểm tập kết, trung chuyển chất thải rắn (CTR) sinh hoạt, tỉnh còn phát triển các mô hình xử lý chất thải sinh hoạt quy mô cấp huyện và liên huyện với công nghệ phù hợp, thân thiện môi trường, cùng các công trình thu gom – thoát nước thải và xử lý nước thải sinh hoạt (NTSH) tập trung và tại chỗ. Trên cơ sở đó, nhiều địa bàn hình thành mô hình xử lý NTSH theo quy mô hộ gia đình và cấp thôn nhằm từng bước khắc phục tình trạng xả thải tự phát, góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống.
Cụ thể, trong triển khai phân loại rác tại nguồn, UBND tỉnh ban hành Quy định về quản lý CTR trên địa bàn theo Quyết định số 15/2023/QĐ-UBND. Nhờ thực hiện phân loại rác tại nguồn, năm 2022 đã giảm 189,7 tấn/ngày, tương đương khoảng 26,4% lượng rác phát sinh. Song song với đó, hệ thống thu gom và tập kết CTR sinh hoạt được tổ chức tương đối bao phủ: toàn tỉnh hiện có 212 đơn vị tham gia thu gom, vận chuyển rác thải (gồm 5 công ty môi trường và 1 trung tâm dịch vụ hạ tầng, 164 hợp tác xã môi trường, cùng các tổ/đội vệ sinh môi trường), với 2.187 lao động và lực lượng, phương tiện gồm 1.869 xe đẩy tay, 125 xe tải (chủ yếu là xe Julong), 45 xe chuyên dụng và 30 xe điện; đồng thời đã xây dựng 302 điểm tập kết, trung chuyển rác trước khi vận chuyển đi xử lý.
Về xử lý CTR và NTSH, tỉnh hiện có 12 khu xử lý CTR sinh hoạt đang hoạt động theo ba loại hình công nghệ (3 nhà máy, 4 bãi chôn lấp và 5 lò đốt độc lập). Năm 2022, lượng rác thu gom và xử lý đúng quy định đạt 624,1 tấn/ngày (tương đương 227.789,2 tấn/năm), đạt tỷ lệ 86,9%; so với năm 2021, lượng rác được xử lý đáp ứng yêu cầu BVMT tăng, từ đó bảo đảm việc quản lý chất thải theo tiêu chuẩn, quy chuẩn. Đối với NTSH, đến cuối năm 2022 toàn tỉnh có 7 mô hình xử lý NTSH tập trung và mô hình xử lý tại hộ triển khai ở 13/13 huyện, thị xã, thành phố; toàn tỉnh ghi nhận khoảng 28.500 hộ/306.501 hộ nông thôn có mô hình thu gom, xử lý nước thải (trong đó có số hộ thuộc mô hình tập trung), đạt 9,3%. |