Lượt truy cập:
Sở hữu trí tuệ [ Đăng ngày (25/04/2026) ]
Tài sản trí tuệ - Nguồn vốn chiến lược và bào toán khơi thông điểm nghẽn pháp lý
“Trong kỷ nguyên kinh tế số, tài sản trí tuệ không còn chỉ nằm trên giấy tờ mà đang dần trở thành một loại “vốn” đặc biệt, có khả năng thế chấp và tạo ra nguồn lực tài chính mạnh mẽ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hành trình từ “văn bằng bảo hộ” đến “dòng tiền ngân hàng” vẫn còn không ít rào cản”.

Đó cũng là khẳng định của Luật sư Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam khi trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân chung quanh nội dung về định giá tài sản trí tuệ để làm tài sản bảo đảm.

Phóng viên: Thưa ông, hiện nay xu hướng định giá tài sản trí tuệ đang được đẩy mạnh. Việc luật hóa và coi đây là một loại tài sản có thể định lượng mang lại ý nghĩa như thế nào đối với hệ sinh thái doanh nghiệp?

Luật sư Nguyễn Văn Hà: Việc định hướng định giá đối với tài sản trí tuệ là một bước đi đột phá, tạo ra hệ sinh thái đặc biệt quan trọng cho doanh nghiệp. Có thể nói đây là một trong những định hướng rất rõ ràng và nó tạo ra những hệ sinh thái đặc biệt quan trọng cho một doanh nghiệp. Đây cũng chính là những tính chất pháp lý mới đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các chủ thể trong mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất kinh doanh với môi trường pháp lý sẽ có thay đổi rất lớn. Điều này thể hiện qua ba khía cạnh lớn:

Thứ nhất, tôi đánh giá việc quy định như vậy chính là tối ưu hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, đặc biệt khơi thông nguồn lực mà trước đây doanh nghiệp chưa bao giờ phát huy được.

Trong mỗi cá nhân, gia đình chúng ta có nhiều tài sản, nhưng có những tài sản từ xưa nay chúng ta chưa bao giờ ý thức được, thì lần này tài sản của doanh nghiệp có giá trị ý nghĩa lớn đã được luật hóa bằng định lượng cụ thể, đó là tài sản vô hình (tài sản trí tuệ), trong khi nguồn thông tin thông thường chúng ta tiếp cận trước đây là tài sản hữu hình (nhà máy, tiền, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị...). Việc đưa tài sản vô hình trở thành định lượng cụ thể để tăng giá trị doanh nghiệp là ý nghĩa đầu tiên.

Thứ hai, khi đã nhìn nhận đó là nguồn tài sản đặc biệt, chúng ta phải khơi thông bằng cách chuẩn hóa quy trình. Vì nó là tài sản nên nó phải trở thành vốn, mà vốn thì phải quản trị, thực hiện kế toán, kiểm toán. Nếu không đưa vào quản trị, không trở thành nguồn vốn, không kê khai trong sổ sách báo cáo tài chính thì nó không có ý nghĩa. Quy định này giúp chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ, quản trị liên quan đến tài sản doanh nghiệp.

Thứ ba, tạo ra cơ chế vừa mang tính cạnh tranh, vừa tạo nền tảng bảo vệ cho chính doanh nghiệp. Một doanh nghiệp mạnh không chỉ đơn giản vì con người, đất đai, máy móc, mà giá trị thương hiệu chính là tài sản bảo vệ chính họ. Nếu giá trị tài sản đó không được đảm bảo, doanh nghiệp có thể "bốc hơi" nhanh chóng. Ngược lại, dù tiền bạc không còn, máy móc hư hỏng, nhưng thương hiệu tốt thì vẫn tạo ra lợi thế vô cùng quan trọng, như một "bùa hộ mệnh".

Phóng viên: Rõ ràng trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc đặt ra yêu cầu với tài sản vô hình mang giá trị chuyển đổi thành hữu hình là rất cấp thiết, nhất là với các doanh nghiệp khoa học công nghệ, khởi nghiệp. Vậy theo ông, bên cạnh những thuận lợi, nó sẽ có những thách thức, rào cản nào?

Luật sư Nguyễn Văn Hà: Bao giờ khi ban hành một chính sách mới cũng có hai mặt. Mặt tích cực thì chúng ta phát huy, nhưng đồng thời phải hạn chế tối thiểu những rủi ro, rào cản. Theo tôi, rào cản pháp lý lớn nhất hiện nay không phải là vấn đề "có cho phép hay không" (vì luật đã quy định rồi), mà là thiếu các quy định về mặt kỹ thuật cụ thể. Theo đó, có một số "điểm nghẽn" sau:

Tiêu chuẩn định giá chuyên biệt: Định giá tài sản thông thường (đất đai, máy móc) đã quá quen thuộc, nhưng tìm một bộ tiêu chuẩn, phương pháp định giá tài sản trí tuệ thì chúng ta chưa có. Đa phần chúng ta đang phải đi sưu tầm ở nước ngoài, mà giữa điều kiện nước ngoài và Việt Nam luôn có độ trễ, cần thời gian rà soát, áp dụng và sàng lọc.

Cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm: Khi đưa tài sản vào thế chấp ngân hàng phải thông qua cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm. Với tài sản phi truyền thống này, việc công khai thông tin thế chấp có thể gây tác động tâm lý tiêu cực. Người dân hoặc đối tác có thể nghĩ doanh nghiệp đang khó khăn nên mới phải đem thương hiệu đi "cầm cố", từ đó làm mất niềm tin và giảm giá trị thương hiệu. Đây là bài toán về bảo mật và giữ gìn giá trị thương mại.

Cơ chế xử lý tài sản: Nếu doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, việc xử lý tài sản trí tuệ thế chấp như thế nào? Tại thời điểm định giá, tài sản thế chấp là tài sản có giá trị, nhưng khi doanh nghiệp sa sút không trả được nợ, giá trị thương hiệu đó chắc chắn bị sụt giảm nghiêm trọng. Giải quyết hậu quả này là một bài toán rất khó, cần sự quyết tâm và tham khảo kinh nghiệm quốc tế kỹ lưỡng.

Phóng viên: Có một thực tế là tài sản trí tuệ liên quan đến nhiều bộ ngành (nông nghiệp liên quan đến giống cây trồng, khoa học công nghệ liên quan đến sáng chế, công thương liên quan đến thương mại...). Sự chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn giữa các luật hiện nay ảnh hưởng thế nào đến công việc của các luật sư và doanh nghiệp, thưa ông?

Luật sư Nguyễn Văn Hà: Sự mâu thuẫn chồng chéo là có, không thể phủ nhận thực trạng đó. Hiện nay mỗi mảng, mỗi lĩnh vực lại do các cơ quan khác nhau quản lý với những quy định khác nhau. Một số xung đột cụ thể:

Đối tượng tài sản bảo đảm: Bộ luật Dân sự quy định quyền sở hữu trí tuệ là một loại quyền tài sản. Luật Sở hữu trí tuệ lại phân chia chi tiết (quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp...). Trong khi đó, Luật Các tổ chức tín dụng yêu cầu tài sản bảo đảm phải định giá được và giao dịch được. Như tôi đã nói, tài sản sở hữu trí tuệ rất khó định giá nếu nó mới ra đời hoặc ít người biết đến.

Đăng ký giao dịch: Tài sản thông thường thì đóng dấu thế chấp rất dễ, nhưng tài sản sở hữu trí tuệ (văn bằng sáng chế, giấy chứng nhận nhãn hiệu) thì việc "đóng dấu" thế chấp có làm hạn chế quyền khai thác, nhượng quyền của doanh nghiệp hay không? Luật của chúng ta chưa dự liệu hết các phương án này.

Kế toán doanh nghiệp: Tài sản phải được hạch toán, trích lập dự phòng rủi ro và khấu hao. Với tài sản sở hữu trí tuệ, việc trích lập dự phòng và tính khấu hao trong sổ sách kế toán hiện vẫn chưa định vị rõ ràng, gây khó khăn cho việc cân đối giá trị doanh nghiệp.

Quả đúng là đang có sự mâu thuẫn giữa các hệ thống luật. Bộ luật Dân sự quy định quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản; Luật Sở hữu trí tuệ quy định về các quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp; nhưng Luật Các tổ chức tín dụng lại yêu cầu tài sản đảm bảo phải định giá được và có tính thanh khoản cao.

Sự chồng chéo này tạo ra một “ma trận” gây khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng. Thiết nghĩ, để giải quyết, chúng ta cần một cơ chế đồng bộ trong việc ghi nhận quyền của doanh nghiệp và quy trình thực thi. Nhà nước cần thường xuyên rà soát, điều chỉnh những quy định lỗi thời, không tương thích để tạo hành lang pháp lý thông thoáng nhất.​

Phóng viên: Theo phân tích của ông, rủi ro pháp lý lớn nhất đối với các tổ chức tín dụng và ngân hàng khi nhận bảo đảm bằng tài sản trí tuệ là gì?

Luật sư Nguyễn Văn Hà: Đó là tính bền vững. Giá trị tài sản trí tuệ chỉ có tính bền vững tại thời điểm định giá. Nó không ổn định như giá các tài sản khác. Hôm nay ngân hàng định giá thương hiệu là triệu đô, nhưng một năm sau có thể chỉ còn vài chục nghìn USD nếu doanh nghiệp kinh doanh không tốt, khi đó, ngân hàng sẽ là người chịu trận đầu tiên.

Vì vậy, ngân hàng khi nhận thế chấp tài sản trí tuệ thường không chỉ nhìn vào tài sản đó, mà phải đánh giá tổng lực: sản phẩm là gì, thị hiếu người tiêu dùng, doanh thu của nhiều năm trước đó, nguồn lực lao động... Tài sản trí tuệ lúc này là tiên phong nhưng phải đi kèm thực lực của doanh nghiệp.

Phóng viên: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách tạo ra các sản phẩm trí tuệ. Với tư cách là một chuyên gia pháp lý, ông cho rằng, điều này đặt ra thách thức gì trong việc xác định chủ sở hữu và định giá tài sản?

Luật sư Nguyễn Văn Hà: Không thể phủ nhận, AI là xu thế không thể đảo ngược. Ở đây, chúng ta cần phân định rõ: nếu một sản phẩm do một cá nhân/doanh nghiệp tạo ra hoàn toàn từ tư duy của họ, đó là tài sản riêng của họ và được bảo hộ theo quy định về pháp luật sở hữu trí tuệ. Nhưng nếu sản phẩm đó được tạo ra từ việc khai thác AI - vốn dựa trên kho dữ liệu cộng đồng và các thuật toán tổng hợp - thì nó mang tính chất tài sản cộng đồng và khó có thể xác định quyền sở hữu riêng để bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

Trừ khi doanh nghiệp chứng minh được họ là bên nghiên cứu, thiết kế và làm chủ chính công nghệ AI đó, khi đó bản thân thuật toán AI mới là sản phẩm trí tuệ của họ. Đây là lĩnh vực rất mới mà chúng ta đã nghiên cứu và đã xây dựng luật riêng về AI để định vị rõ ràng các thiết chế này.

Phóng viên: Vậy để tài sản trí tuệ thực sự trở thành một loại tài sản có giá trị pháp lý minh bạch và là “đòn bẩy” vốn cho doanh nghiệp, đâu là điều kiện tiên quyết, thưa ông?

Luật sư Nguyễn Văn Hà: Đứng góc độ tham mưu pháp lý, để tối ưu hóa loại hình tài sản này, điều kiện tiên quyết chính là sự đồng bộ và con người. Tôi cho rằng, đó là sự thể hiện ở đồng bộ hóa hệ thống ghi nhận quyền của doanh nghiệp đối với tài sản trí tuệ, chuẩn hóa bộ quy chuẩn định giá, thẩm định giá (dù ban đầu có thể chưa hoàn thiện nhưng bắt buộc phải có) cũng như chuẩn hóa quy trình phối hợp giữa doanh nghiệp - ngân hàng - cơ quan đăng ký thông tin để bảo đảm hài hòa, công khai, minh bạch.

Trước mắt, có thể thực hiện cơ chế thí điểm đối với những nhóm đối tượng hoặc doanh nghiệp có thương hiệu mạnh, đã được khẳng định trên thị trường trước đó (như Vinamilk, Hòa Phát, Viettel...). Khi quy trình thí điểm thành công, tạo được niềm tin cho hệ thống ngân hàng và người tiêu dùng, chúng ta mới có cơ sở để nhân rộng ra các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Tài sản trí tuệ là cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong kỷ nguyên số. Nếu chúng ta làm tốt công tác đồng bộ hóa và quyết tâm thực hiện một cách thận trọng nhưng quyết liệt, đây sẽ là nguồn lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số như mục tiêu chúng ta đã đặt ra và đang quyết tâm thực hiện.

Xét đến cùng điều kiện tiên quyết vẫn là yếu tố con người. Con người ở đây là chủ doanh nghiệp, là cán bộ ngân hàng và là những người xây dựng thể chế. Nếu chúng ta làm tốt sự đồng bộ thì đây sẽ là cơ hội cực lớn cho các doanh nghiệp chuyển đổi số và khởi nghiệp tại Việt Nam.

https://nhandan.vn/ (ltnhuong)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
Tin mới
Thực trạng sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập của sinh viên y học dự phòng
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực trong giáo dục, đặc biệt là đối...
Chuyển đổi số trong đào tạo y học cổ truyền: khoảng cách giữa phổ cập và chuyên sâu
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ thông tin (CNTT) và chuyển đổi số đã trở thành yếu tố then chốt làm thay đổi căn bản mô...
Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn Vibrio parahaemolyticus của dịch chiết cây đước (Rhizophora apiculata) trong điều kiện in vitro
Việc nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết từ rễ, lá và trái đước (Rhizophora apiculata) đối với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus được thực hiện bằng phương pháp...
Ảnh hưởng của tỷ lệ bột và thời gian bảo quản lạnh đến chất lượng sản phẩm khoanh mực (Loligo chinensis) tẩm bột bổ sung bột đạm thủy phân từ thịt cá lóc (Channa striata)
Nghiên cứu do tác giả Trương Thị Mộng Thu và Lê Thị Minh Thủy - Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của...
Biến đổi khí hậu có thể thúc đẩy sinh vật tiến hóa nhanh qua nhiều thế hệ
Các nhà khoa học mới đây phát hiện rằng biến đổi khí hậu không chỉ gây áp lực tức thời lên sinh vật mà còn có thể thúc đẩy quá...
Quản lý phụ phẩm nông nghiệp theo hướng tuần hoàn cấp cộng đồng:  từ thực tiễn đến mô hình khái quát
Hoạt động sản xuất nông nghiệp tạo ra một khối lượng lớn phụ phẩm nhưng công tác quản lý, thu gom và tái chế chưa theo kịp, làm phát thải...
Tổng quan về các biện pháp kỹ thuật canh tác  cây dược liệu hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.)
Hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.) là cây dược liệu có giá trị kinh tế và dược học cao, được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền và...
Tái sử dụng nước thải nuôi tôm siêu thâm canh để nuôi vi tảo và Artemia
Theo khảo sát của Liên minh Thủy sản toàn cầu, sản lượng tôm nuôi trên thế giới tăng từ 3,2 triệu tấn năm 2010 lên 5,6 triệu tấn vào năm...
Phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn lactic có khả năng đối kháng với một số vi khuẩn gây bệnh thường gặp trên vật nuôi
Việc sử dụng kháng sinh thường xuyên trong chăn nuôi nhằm kích thích sinh trưởng và phòng bệnh đã làm gia tăng nguy cơ xuất hiện vi khuẩn kháng kháng...
So sánh hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi dê bằng các phương pháp khác nhau
Ngành chăn nuôi dê ở Việt Nam giai đoạn 2020–2023 tăng trưởng bình quân 2,82%/năm, đến năm 2023 đạt 2.835.846 con (Cục Thống kê, 2024). Sự mở rộng đàn dê...
Nhân nhanh in vitro cây công chúa hồng (Philodendron erubescens Pink Princess)
Ngày nay, cùng với nhu cầu ngày càng tăng về không gian sống thư giãn, có tính thẩm mỹ và gần gũi thiên nhiên, cây cảnh lá trở thành một...
Khảo sát sinh trưởng và năng suất một số giống dưa lưới (Cucumis melo var. Cantalupensis) trồng bằng phương pháp thủy canh tĩnh
Dưa lưới (Cucumis melo var. cantalupensis) thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), là nhóm rau ăn trái có thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất khá cao và thích hợp...
Ảnh hưởng của chu kỳ tắt sục khí đến biến động hàm lượng oxy, tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn đồng (Monopterus albus) trong hệ thống tuần hoàn
Lươn đồng (Monopterus albus) là loài thủy sản nước ngọt phân bố khá rộng ở các thủy vực nội địa, có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao nhờ...
Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn Vibrio parahaemolyticus của dịch chiết cây đước (Rhizophora apiculata) trong điều kiện in vitro
Việc lạm dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản đang gây lo ngại vì có thể làm giảm chất lượng sản phẩm và tác động tiêu cực đến sức...
Ảnh hưởng của xử lý axit boric trước thu hoạch đến năng suất và chất lượng trái quýt hồng (Citrus recticulata Blanco)
Quýt hồng (Citrus reticulata Blanco) ở Đồng Tháp từ lâu đã gắn với giá trị kinh tế và ý nghĩa văn hóa địa phương. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất...
-->