Môi trường [ Đăng ngày (16/04/2026) ]
Đề xuất nghiên cứu sử dụng vỏ hàu trong xử lý nước thải chế biến thủy sản
Ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và tạo nguồn ngoại tệ, nhưng cũng tạo sức ép môi trường do phát sinh đồng thời chất thải rắn và nước thải trong suốt quá trình sản xuất.

Ảnh minh họa

Theo Tổng cục Môi trường (2011), riêng chế biến cá da trơn có thể tạo khoảng 5–7 m³ nước thải cho mỗi tấn sản phẩm, trong đó hàm lượng ô nhiễm thường vượt quy chuẩn. Nếu không được thu gom và xử lý kịp thời, nguồn thải này có nguy cơ gây tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và chất lượng môi trường sống (Nguyễn Võ Châu Ngân và cộng sự, 2015).

Đặc trưng ô nhiễm của nước thải chế biến thủy sản biến động mạnh theo loại nguyên liệu (tôm, cá, mực, bạch tuộc, cua, nghêu, sò…) và theo mùa vụ, thậm chí thay đổi trong cùng một ngày sản xuất, đặc biệt tại các dây chuyền có mức ô nhiễm cao. Một số khoảng giá trị điển hình gồm pH 6,5–7,0; SS 500–1.200 mg/L; COD 800–2.500 mgO₂/L; BOD₅ 500–1.500 mgO₂/L; tổng N 100–300 mg/L; tổng P 50–100 mg/L và dầu mỡ 250–830 mg/L (Lê Hoàng Việt và cộng sự, 2014). Nhìn chung, nước thải có tính hữu cơ cao và khả năng phân hủy sinh học tương đối tốt, thể hiện qua tỷ lệ BOD/COD dao động 0,6–0,9 (Nguyễn Trung Việt và cộng sự, 2011; Phạm Thị Phương Trinh và cộng sự, 2016). Tuy nhiên, các công nghệ xử lý truyền thống (hiếu khí, kị khí, vi sinh vật hoặc hóa chất) thường đòi hỏi chi phí đầu tư và vận hành lớn, đồng thời dễ phát sinh bùn thải thứ cấp, làm tăng gánh nặng quản lý môi trường.

Trong xu hướng giảm phát thải và tận dụng phụ phẩm, vỏ hàu được xem là hướng đi tiềm năng vừa giảm lượng chất thải rắn vừa hỗ trợ xử lý nước thải. Trên thế giới, vỏ các loài nhuyễn thể phát sinh rất lớn, trong đó vỏ hàu là một nguồn đáng kể (W.H. Park và cộng sự, 2008). Tại Việt Nam, sản lượng hàu trung bình tại Quảng Ninh, Hải Phòng và Thanh Hóa khoảng 10.000–12.000 tấn/năm; các tỉnh khác ước tính Nghệ An 2.000 tấn/năm, Thừa Thiên–Huế 2.500 tấn/năm, Phú Yên 1.800 tấn, Bà Rịa–Vũng Tàu 2.000 tấn/năm, và nhiều tỉnh ven biển còn lại 500–1.500 tấn; tổng sản lượng cả nước khoảng 30.000–35.000 tấn/năm, tương ứng lượng vỏ hàu 25.500–29.700 tấn/năm (Nguyễn Xuân Thi và cộng sự, 2011; Bách khoa Thủy sản, 2007; Nguyễn Xuân Thi, 2019). Với thành phần chủ yếu là CaCO₃, vỏ hàu có khả năng chuyển hóa thành CaO và các dẫn xuất có hoạt tính; đã có chứng cứ về tiềm năng xử lý kim loại nặng, song ứng dụng cho việc xử lý chất hữu cơ, dinh dưỡng và vi sinh trong nước thải chế biến thủy sản vẫn còn hạn chế. Hiện nay việc tái sử dụng vỏ hàu mới thiên về làm vật liệu cho chăn nuôi hoặc làm rạn san hô nhân tạo và hiệu quả chưa tối ưu, vì vậy cần nghiên cứu cơ chế chuyển hóa CaCO₃ theo các điều kiện khác nhau để hướng tới giải pháp xử lý phù hợp, bền vững và khả thi trong điều kiện Việt Nam.

dtnkhanh
Theo Tạp chí Môi trường, chuyên đề III/2025
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Video




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này