Nông - Lâm - Ngư nghiệp [ Đăng ngày (11/04/2026) ]
Ảnh hưởng của thức ăn và mật độ ngao (meretrix lyrata) tới hiệu suất làm sạch cát trong hệ thống tuần hoàn
Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng nhuyễn thể tại Việt Nam phát triển mạnh, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu ngành thủy sản và định hướng xuất khẩu. Theo Tùng và cộng sự (2022), diện tích nuôi nhuyễn thể trên toàn quốc đạt trên 35.000 ha với sản lượng khoảng 471.000 tấn; trong đó nuôi ngao chiếm gần 50% về diện tích và sản lượng.

Ảnh minh họa

Năm 2024, xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ của Việt Nam đạt 217 triệu USD, tăng 72% so với năm 2023; riêng ngao là sản phẩm chủ lực, chiếm khoảng 93% tổng giá trị, tương đương gần 200 triệu USD (VASEP, 2024). Thị trường tiêu thụ chính gồm EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc.

Ngao trắng (Meretrix lyrata), thuộc họ Veneridae, phân bố tự nhiên dọc vùng ven biển Việt Nam, Đài Loan, Philippines và khu vực Hoa Nam–Trung Quốc. Dù có tiềm năng lớn, giá trị ngao Việt Nam còn hạn chế do nhiều nguyên nhân, nổi bật là chi phí nuôi cao, giá thành sản xuất thấp, biến động thị trường và đặc biệt là hạn chế trong khâu chế biến. Phần lớn sản phẩm hiện vẫn xuất khẩu ở dạng nguyên liệu thô hoặc mới qua sơ chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về tính đa dạng và chất lượng của thị trường quốc tế. Để nâng cao sức cạnh tranh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã định hướng phát triển ngành ngao theo hướng hiện đại, giảm tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm sơ chế và tăng cường chế biến sâu nhằm cải thiện chất lượng và giá trị gia tăng.

Nhằm đáp ứng nhu cầu làm sạch cát và nâng cao hiệu quả xử lý ngao, nghiên cứu này được thực hiện trong hệ tuần hoàn với mục tiêu đánh giá khả năng sạch cát của ngao trắng thương phẩm sau thu hoạch. Nghiên cứu gồm 3 thí nghiệm trong phòng lab và 17 mẻ thử nghiệm tại nhà máy; các thí nghiệm độc lập, đánh giá sau 48 giờ theo các yếu tố: lượng thức ăn vi tảo Chaetoceros gracilis (0; 11×10³; 22×10³; 33×10³ tế bào/ml), tần suất cho ăn (3, 6, 9, 12 giờ/lần) và mật độ ngao (18, 54, 90, 126 kg/m³), với các chỉ tiêu gồm tỉ lệ sống, tỉ lệ có cát và tốc độ lọc. Kết quả cho thấy lượng vi tảo tối ưu là 22×10³ tế bào/ml; tần suất cho ăn cho hiệu quả sạch cát cao nhất là 3 giờ/lần nhưng do tốn nhân công nên thí nghiệm tiếp theo áp dụng 6 giờ/lần; mật độ 18 kg/m³ cho tỉ lệ sạch cát tốt nhất và tốc độ lọc cao nhất. Các mẻ thử nghiệm tại nhà máy với mật độ 170–380 kg/m³ cho thấy công nghệ xử lý giúp ngao sạch cát tốt hơn so với ngâm sục khí khi thời gian xử lý kéo dài trên 24 giờ. Từ đó, nghiên cứu cũng hướng tới cải tiến hệ thống để tăng tỉ lệ thịt thu hồi ở các bước tiếp theo.

ntdinh
Theo Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(8): 1034-1042
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Video  
 
 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này