Lượt truy cập:
Sở hữu trí tuệ [ Đăng ngày (01/03/2026) ]
Vấn đề quyền tác giả ở một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Nghiên cứu "Vấn đề quyền tác giả ở một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay" do Trần Thị Vân Anh - Vũ Thị Cẩm Anh - Vũ Yến Nhi - Lại Văn Long - Nguyễn Hoàng Duy - Trần Bảo Ngọc (Học viện Báo chí và Tuyên truyền; Trường Đại họcH Ngoại thương) thực hiện.

Nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả cho vấn đề vi phạm quyền tác giả tại các trường đại học ở Hà Nội, nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu “Vấn đề quyền tác giả ở một số trường đại học tại Hà Nội”. Nghiên cứu này giúp bảo vệ quyền lợi của cá nhân, tổ chức trong môi trường học thuật và nâng cao chất lượng giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số.

Phương pháp định lượng được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng, mối quan hệ giữa các nhân tố được kỳ vọng có tác động đến hành vi vi phạm quyền tác giả ở sinh viên. Dữ liệu trong nghiên cứu là dữ liệu sơ cấp được thu thập từ kết quả khảo sát thông qua bảng câu hỏi trên Google Forms với 544 sinh viên tại 3 trường đại học, gồm: Trường Đại học Ngoại Thương, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Thương mại. Thang đo Likert 5 mức được triển khai trong bảng câu hỏi từ hoàn toàn không đồng ý (điểm 1) đến rất đồng ý (điểm 5). Dữ liệu sau khi thu thập và tổng hợp sẽ được lọc, phân tích bằng phần mềm SPSS 27 và AMOS 24 để đánh giá kết quả của mô hình và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Theo kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra một số nhận định như sau:

Thứ nhất, nghĩa vụ đạo đức có tác động cùng chiều mạnh mẽ đến chuẩn chủ quan của ý định vi phạm quyền tác giả (hệ số tác động 0.82, p-value < 5%). Kết quả này trái ngược với các nghiên cứu trước (Yoon, 2010; Christine Slade, Jack Walton và James Lewandowski-Cox, 2024) đã kết luận nghĩa vụ đạo đức cao làm giảm sự ủng hộ hành vi vi phạm. Ở các công trình này, nghĩa vụ đạo đức được hiểu như cảm giác nghĩa vụ nội tại thúc đẩy cá nhân phản đối những hành vi trái đạo đức hoặc pháp luật. Trong bối cảnh Việt Nam, nghĩa vụ đạo đức có thể được hiểu khác đi, là những áp lực đạo đức từ xã hội hơn là từ nội tại, dẫn đến việc sinh viên có xu hướng chấp nhận và ủng hộ hành vi vi phạm nếu môi trường xung quanh không phản đối mạnh mẽ. Điều này được thể hiện trong nghiên cứu của Hồ Thị Thúy Nga (2023), khi các áp lực đạo đức từ tổ chức và xã hội có thể khiến cá nhân đồng thuận với hành vi vi phạm. Vì vậy, khi nghĩa vụ đạo đức cao sẽ làm giảm sự ủng hộ của xã hội đối với hành vi vi phạm.

Thứ hai, chuẩn chủ quan có tác động ngược chiều đến thái độ ủng hộ hành vi vi phạm quyền tác giả, với hệ số tác động -0.682 và p-value < 5%. Kết quả này trái ngược với lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991), khi mà chuẩn chủ quan thường thúc đẩy hành vi vi phạm nếu có sự đồng thuận từ xã hội. Tuy nhiên, Schultz (2006) cho rằng khi nhận thức xã hội thay đổi theo hướng tích cực, chuẩn mực vi phạm bản quyền sẽ chuyển từ chấp nhận sang phản đối hành vi này. Nếu xem xét về sự cách biệt trong thời gian nghiên cứu và bối cảnh diễn ra sôi nổi các hoạt động tuyên truyền và chương trình giáo dục về bản quyền tại Việt Nam, sinh viên sẽ có xu hướng bị ảnh hưởng bởi chuẩn chủ quan phản đối hành vi vi phạm, từ đó điều chỉnh thái độ và giảm ý định vi phạm. Do đó, khi chuẩn chủ quan về hành vi vi phạm tăng, thái độ ủng hộ vi phạm sẽ giảm.

Thứ ba, nhận thức rủi ro có tác động ngược chiều đến thái độ ủng hộ vi phạm quyền tác giả nhưng tác động này không có ý nghĩa thống kê (hệ số tác động -0.078, p-value = 0.114). Mặc dù theo lý thuyết ngăn chặn, nhận thức rủi ro cao sẽ làm giảm thái độ ủng hộ hành vi vi phạm, nhưng trong nghiên cứu này, mức độ rủi ro không đủ mạnh để thay đổi thái độ của sinh viên. Nguyên nhân có thể do hệ thống thực thi pháp luật về quyền tác giả tại Việt Nam chưa hiệu quả (Phạm Minh Huyền, 2022) khiến sinh viên không cảm thấy có nguy cơ bị xử phạt đáng kể. Hơn nữa, nhiều sinh viên có tâm lý quen với rủi ro và cảm giác "an toàn nhóm", khi thấy hành vi vi phạm diễn ra phổ biến mà không bị xử lý.

Thứ tư, nhận thức về rủi ro có tác động ngược chiều đến khả năng kiểm soát hành vi vi phạm quyền tác giả của sinh viên, với hệ số chuẩn hóa -0.58 và p-value < 5%. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Al-Rafee & Cronan (2008) và G. Peace (2003), khi cá nhân nhận thức rủi ro cao, họ sẽ thấy hành vi vi phạm khó thực hiện hơn. Tuy nhiên, trong môi trường giáo dục tại Việt Nam, do thiếu các biện pháp giám sát và xử phạt nghiêm ngặt, sinh viên có thể xem việc vi phạm bản quyền là dễ dàng và ít rủi ro, làm gia tăng hành vi vi phạm.

Thứ năm, sự phát triển công nghệ có tác động tích cực đến khả năng kiểm soát hành vi vi phạm quyền tác giả với hệ số tác động 0.252, p-value < 5%. Kết quả này phù hợp với mô hình UTAUT của Venkatesh (2003) và nghiên cứu của Al-Rafee & Cronan (2006). Điều này có nghĩa khi công nghệ phát triển, khả năng kiểm soát hành vi vi phạm tăng lên. Sự phổ biến của Internet; các nền tảng chia sẻ dữ liệu trực tuyến và tính ẩn danh trên mạng làm giảm các rào cản kỹ thuật trong việc truy cập tài liệu có bản quyền, khiến cho việc vi phạm trở nên dễ dàng hơn.

Thứ sáu, chuẩn chủ quan có tác động tiêu cực đến ý định vi phạm quyền tác giả, với hệ số tác động -0.363 và p-value < 5%. Kết quả này trái ngược với lý thuyết hành vi dự định, trong đó chuẩn chủ quan được kỳ vọng là làm tăng ý định vi phạm. Tuy nhiên, trong bối cảnh các trường đại học tại Việt Nam, các chuẩn mực sao chép (copynorms) đang chuyển dịch theo hướng tích cực nhờ các chương trình giáo dục bản quyền, làm cho chuẩn chủ quan không còn thúc đẩy vi phạm mà ngược lại, gây áp lực buộc sinh viên phải tuân thủ. Điều này phù hợp với lý thuyết của Schultz (2006), cho rằng việc thay đổi chuẩn mực xã hội thông qua giáo dục và truyền thông có thể làm giảm hành vi vi phạm. Qua đó, khi chuẩn chủ quan tăng, ý định vi phạm sẽ giảm.

Thứ bảy, thái độ ủng hộ hành vi vi phạm có tác động cùng chiều đến ý định vi phạm quyền tác giả, với hệ số tác động 0.191 và p-value < 5%. Kết quả này phù hợp với lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) khi cho rằng thái độ ủng hộ vi phạm tăng sẽ làm ý định vi phạm tăng. Thái độ này được hình thành từ sự đánh giá của sinh viên về lợi ích của hành vi vi phạm, như tiết kiệm chi phí và truy cập nội dung miễn phí, đồng thời cảm giác ít rủi ro bị phát hiện.

Thứ tám, khả năng kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến ý định vi phạm quyền tác giả, với hệ số tác động 0.725 và p-value < 5%. Kết quả này phù hợp với công trình của Ajzen (1991) và Gorsuch và Ortberg (1983). Khi sinh viên cảm thấy họ có khả năng kiểm soát hành vi vi phạm, họ có xu hướng có ý định vi phạm cao hơn.

Thứ chín, ý định vi phạm quyền tác giả có tác động cùng chiều đến hành vi vi phạm quyền tác giả, với hệ số tác động là 0.704 và p-value nhỏ hơn 5%. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Ajzen (1991) và Al-Rafee & Cronan (2006). Nguyên nhân là khi sinh viên có ý định thực hiện hành vi vi phạm, họ đã trải qua quá trình đánh giá về lợi ích và rủi ro của hành vi này. Nếu họ tin rằng khả năng bị phát hiện thấp, hoặc môi trường xung quanh không có sự ngăn cản đáng kể, họ sẽ dễ dàng chuyển từ ý định sang thành hành vi thực tế.

Cuối cùng, khả năng kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến hành vi vi phạm quyền tác giả, với hệ số tác động là 0.188 và p-value nhỏ hơn 5%. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Liao và cộng sự (2010), Venkatesh và cộng sự (2003). Qua đó, khi một sinh viên cảm thấy họ có đủ khả năng kiểm soát hành vi vi phạm, họ có xu hướng thực hiện hành vi đó nhiều hơn. Đặc biệt, sự phát triển của công nghệ như các nền tảng chia sẻ tài liệu trực tuyến, mạng xã hội và các công cụ tải miễn phí đã tạo điều kiện cho cá nhân có thêm nhiều lựa chọn để vi phạm quyền tác giả mà ít gặp phải rào cản kỹ thuật hay pháp lý.

Nghiên cứu khẳng định vi phạm quyền tác giả trong môi trường đại học là một vấn đề đáng báo động, với nhiều nguyên nhân xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ, chuẩn mực xã hội chưa rõ ràng và sự thực thi chưa hiệu quả các quy định, chính sách đến từ nhà trường và pháp luật. Việc sinh viên dễ dàng tiếp cận tài liệu số, cùng với áp lực học tập và thiếu hụt các biện pháp răn đe, đã khiến hành vi vi phạm ngày càng trở nên phổ biến. Trong khi đó, nghĩa vụ đạo đức và nhận thức về hậu quả pháp lý lại đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế xu hướng vi phạm.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, ngoài việc hoàn thiện các quy định pháp lý, cần có sự phối hợp giữa nhà trường, giảng viên và sinh viên trong việc xây dựng môi trường học thuật minh bạch, nơi các quyền tác giả được tôn trọng và bảo vệ. Đồng thời, các biện pháp kiểm soát vi phạm cần được triển khai hiệu quả hơn, kết hợp giữa giáo dục, công nghệ và chế tài xử phạt để nâng cao ý thức trách nhiệm của sinh viên.

Để giảm thiểu vi phạm quyền tác giả trong các trường đại học, cần triển khai đồng bộ các biện pháp nâng cao nhận thức, hoàn thiện khung pháp lý và ứng dụng công nghệ. Trước tiên, nhà trường nên tổ chức hội thảo, lồng ghép nội dung bản quyền vào giảng dạy nhằm giúp sinh viên hiểu rõ hậu quả pháp lý và đạo đức của hành vi vi phạm. Đồng thời, cần ban hành quy định cụ thể, áp dụng chế tài xử phạt nghiêm minh và sử dụng phần mềm kiểm tra đạo văn để kiểm soát vi phạm.

Bên cạnh đó, việc thúc đẩy nghĩa vụ đạo đức của sinh viên thông qua các hoạt động nghiên cứu, thi viết luận sẽ giúp nâng cao ý thức học thuật. Cuối cùng, công nghệ như blockchain có thể hỗ trợ lưu trữ tài liệu minh bạch, hạn chế chia sẻ trái phép. Sự kết hợp giữa giáo dục, pháp luật và công nghệ sẽ góp phần xây dựng môi trường học thuật minh bạch và khuyến khích sáng tạo.

ltnhuong
Theo Tạp chí Công Thương
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
Tin mới
Giải mã công nghệ lõi tạo nên thương hiệu máy hàn số 1 Việt Nam – Hồng Ký
Sự vượt trội của nhà máy Hồng Ký trên thị trường máy hàn điện tử không chỉ nằm ở quy mô sản xuất lớn nhất Việt Nam mà còn ở...
Cơ khí năm 2026 Đổi mới, phát triển bền vững và tiến hóa công nghiệp của Việt Nam
Bước sang năm 2026, ngành cơ khí đứng trước bước ngoặt quyết định. Đột phá công nghệ, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và áp lực môi trường...
Chuẩn tinh ức chế sự hình thành sao
Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng chuẩn tinh phát ra bức xạ đủ mạnh để ngăn chặn sự hình thành sao trong các thiên hà lân cận...
Chất lỏng có thể vỡ vụn như chất rắn
Qua thí nghiệm, các nhà nghiên cứu nhận thấy, khi một số chất lỏng được kéo giãn với lực đủ mạnh, chúng không chỉ loãng ra và chảy mà còn...
Đoàn cơ sở Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ trong hoạt động Tháng thanh niên năm 2026
Nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với bầu cử, Đoàn cơ sở Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ đã...
Tiết lộ lý do khiến huyết áp không giảm
Một nghiên cứu quy mô lớn của Mỹ tiết lộ rằng hơn một phần tư số người mắc chứng huyết áp cao khó điều trị có thể đang gặp phải...
Khám phá thế giới di truyền bí ẩn dưới đáy biển Nam Cực
Một cuộc khảo sát di truyền quy mô lớn về vùng biển Nam Cực đã hé lộ một thế giới vi sinh vật ẩn giấu với tầm ảnh hưởng vô...
Vài phút tập luyện mỗi ngày giúp giảm nguy cơ mắc 8 loại bệnh nguy hiểm
Một nghiên cứu lớn với gần 100.000 người tham gia cho thấy không chỉ lượng vận động mà cả cường độ vận động cũng rất quan trọng đối với sức...
Mã QR nhỏ nhất thế giới có thể lưu trữ dữ liệu trong nhiều thế kỷ
Các nhà khoa học đã tạo ra một mã QR siêu nhỏ, chỉ có thể nhìn thấy bằng kính hiển vi điện tử – nhỏ hơn hầu hết các loại...
Trạng thái ẩn giấu của nước giải thích tại sao sự sống tồn tại
Các nhà khoa học cuối cùng đã tìm ra một “điểm tới hạn” ẩn giấu trong nước siêu lạnh, giải thích tại sao nó lại có những đặc tính kỳ...
Rác thải nhựa biến mất trong đại dương đã đi đâu?
Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng lượng nhựa "mất tích" trong đại dương không hề biến mất mà đã phân hủy thành hàng nghìn tỷ hạt nhựa...
Vật liệu carbon mới giúp tiết kiệm chi phí thu giữ carbon
Một loại vật liệu carbon được thiết kế lại một cách khéo léo có thể giúp việc thu giữ CO2 trở nên rẻ hơn nhiều, bằng cách giải phóng nó...
Nghiên cứu cho thấy sàng lọc tự kỷ bằng M-CHAT bỏ sót 38% trẻ nhỏ có nguy cơ cao.
Một nghiên cứu từ Viện Karolinska được công bố trên tạp chí JAMA Network Open cho thấy, M-CHAT không phát hiện được tất cả trẻ sơ sinh mắc chứng tự...
Mô hình AI có thể dự đoán hiệu quả của hóa trị trong điều trị ung thư vú
Các nhà nghiên cứu từ Viện Công nghệ Technion—Israel, cùng với các cộng tác viên từ các trung tâm y tế hàng đầu ở Hoa Kỳ và Châu Âu, đã...
Giải quyết vấn đề thiếu oxy trong việc cung cấp thuốc dựa trên tế bào
Việc cấy ghép các tế bào sống để sản xuất thuốc lâu dài có thể thay đổi phương pháp điều trị nhiều bệnh, nhưng việc nuôi dưỡng những "công nhân"...
-->