Ảnh minh họa
Phân dê có dạng viên nhỏ, độ ẩm thấp, thuận tiện cho thu gom, ít phát sinh mùi và có hàm lượng nitơ cao hơn nhiều loại phân gia súc khác (Hiền và ctv., 2017), vì vậy vừa là “gánh nặng” môi trường vừa là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho sản xuất phân hữu cơ.
Hiện nay, ở quy mô hộ gia đình và trang trại, các phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi dê phổ biến gồm phương pháp truyền thống, ủ compost và nuôi trùn quế. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế riêng: xử lý truyền thống đơn giản nhưng tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm; trong khi đó, compost và nuôi trùn quế là hướng tiếp cận sinh học giúp chuyển hóa chất thải thành phân bón hữu cơ chất lượng cao (Thùy & Nam, 2020). Tuy đã có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả từng phương pháp, việc so sánh một cách hệ thống và đặc biệt là làm rõ chất lượng sản phẩm phân bón hữu cơ tạo ra từ mỗi cách xử lý vẫn còn hạn chế.
Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi dê bằng ba phương pháp: truyền thống, ủ compost và nuôi trùn quế, với trọng tâm là chất lượng phân bón hữu cơ thu được. Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 7 nghiệm thức (NT), 3 lần lặp lại: ủ truyền thống (TT), nuôi trùn Quế (VM) và 5 nghiệm thức ủ compost (CP1–CP5) phối trộn từ 100%, 75%, 50%, 25% và 0% chất thải bài tiết của dê (GE) cùng với chất thải thực vật (FW) phát sinh khi cho dê ăn và lưu trữ ở kho. Kết quả cho thấy khi xử lý 100% GE, VM và CP1 có hiệu quả tương đương và vượt trội so với TT; phân bón hữu cơ từ VM và CP1 gần đạt QCVN 01-189:2009/BNNPTNT, chỉ cần điều chỉnh độ ẩm và tỉ lệ C/N. Trong các nghiệm thức ủ compost, CP1, CP2 (75% GE + 25% FW) và CP3 (50% GE + 50% FW) cho hiệu quả xử lý tương đương và cao hơn CP4 (25% GE + 75% FW) và CP5 (100% FW). Do đó, đối với trại chủ yếu phát sinh GE, CP1 và VM được xem là lựa chọn tốt; nếu cần xử lý đồng thời GE và FW thì nên áp dụng CP2 hoặc CP3 để vừa quản lý chất thải vừa tạo ra phân bón hữu cơ. |