Sức khỏe [ Đăng ngày (14/04/2026) ]
Đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của hệ sinh thái biển và đất ngập nước tại Việt Nam
HST biển và hệ sinh thái đất ngập nước (ĐNN), đặc biệt là các hệ sinh thái ven bờ, có vai trò then chốt trong cân bằng sinh thái toàn cầu.

Ảnh minh họa

Chúng bao phủ hơn 70% bề mặt Trái Đất và góp phần tạo ra khoảng 50% lượng oxy thông qua quang hợp của sinh vật phù du và hệ thực vật biển. Đồng thời, nhiều hệ sinh thái như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và rạn san hô vừa góp phần bảo vệ bờ biển khỏi xói mòn, vừa tham gia lưu giữ “các-bon xanh”; ước tính các HST biển có thể lưu giữ khoảng 83 tỷ tấn các-bon toàn cầu (Blue Carbon Initiative, 2023). ĐNN, dù chỉ chiếm khoảng 5–8% diện tích mặt đất, vẫn có khả năng lưu giữ đến 35% lượng các-bon hữu cơ trong đất (Gardner & Finlayson, 2018). Tuy nhiên, ĐNN toàn cầu đã suy giảm hơn 35% kể từ năm 1970 với tốc độ mất nhanh hơn gấp ba lần so với rừng, kéo theo rủi ro gia tăng ngập úng, suy giảm điều tiết nước và làm tổn thương sinh kế cộng đồng ven biển (Gardner et al., 2018; WWF, 2020).

Trước tầm quan trọng của các bể các-bon tự nhiên, đặc biệt là biển và ĐNN, các cơ chế trong khuôn khổ UNFCCC đã được thúc đẩy nhằm bảo vệ và quản lý bền vững các hệ sinh thái này. Các quốc gia tăng cường hợp tác để nâng cao hiệu quả phối hợp quốc tế trong quản trị các-bon theo hướng giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời hướng tới bảo đảm tính toàn vẹn môi trường và hỗ trợ đạt mục tiêu khí hậu toàn cầu. Trong đó, Blue Carbon Initiative (2023) nhấn mạnh rằng các nỗ lực phối hợp bảo vệ môi trường đồng thời góp phần hỗ trợ các quốc gia thực thi cam kết khí hậu, qua đó tạo động lực cho quản trị “các-bon xanh” theo cách vừa hiệu quả, vừa bền vững (Blue Carbon Initiative, 2023).

Song song với khung chính sách quốc tế, nhiều sáng kiến chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) được phát triển nhằm tạo nguồn tài chính theo nguyên tắc “người hưởng lợi phải trả tiền”, hướng tới công bằng lợi ích giữa bên cung cấp dịch vụ và bên thụ hưởng. Trên thế giới, sáng kiến PES về dịch vụ môi trường rừng được ghi nhận từ Costa Rica năm 1997 (Pagiola, 2008); tại Việt Nam, PFES bắt đầu năm 2011 theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP và sau đó được thay thế, sửa đổi bởi Nghị định 91/2024/NĐ-CP. Theo quy định hiện hành, PFES bao gồm 5 nhóm dịch vụ môi trường rừng, trong đó có nhóm “hấp thụ và lưu giữ các-bon, giảm phát thải khí nhà kính...” và đồng thời có cơ chế chi trả đối với một số dịch vụ HST tự nhiên. Cụ thể, Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật BVMT 2020 xác định các dịch vụ HST tự nhiên áp dụng chi trả, bao gồm dịch vụ HST ĐNN phục vụ du lịch, giải trí, nuôi trồng thủy sản ở vùng ĐNN quan trọng; dịch vụ HST biển phục vụ các hoạt động tương tự tại khu bảo tồn biển/khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Chính phủ, 2010; Chính phủ, 2022; Chính phủ, 2024). Tuy vậy, hiện nay đối với dịch vụ HST tự nhiên phục vụ mục đích hấp thụ và lưu giữ các-bon của HST biển và ĐNN, vẫn chưa có quy định cụ thể về bên chi trả (bên mua), bên được chi trả (bên bán), giá bán cũng như cách thức sử dụng kinh phí thu được (Trần Thị Thu Hà và cộng sự, 2024). Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất cơ chế/chương trình thí điểm chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của HST biển và ĐNN ở Việt Nam là cấp thiết nhằm khắc phục tình trạng người cung cấp dịch vụ chưa được hưởng lợi tương xứng, trong khi người thụ hưởng không chi trả tương ứng, từ đó suy giảm động lực bảo vệ và làm giảm hiệu quả bảo tồn. Nghiên cứu áp dụng phương pháp tổng quan tài liệu và kế.

dtnkhanh
Theo Tạp chí Môi trường, chuyên đề IV/2024
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này