Nông - Lâm - Ngư nghiệp [ Đăng ngày (12/04/2026) ]
Khả năng làm giảm Na+ trong đất nhiễm mặn của đậu nành, mè và hướng dương điều kiện nhà lưới
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem là một trong những vùng chịu tác động rõ rệt của biến đổi khí hậu (BĐKH), với các biểu hiện nổi bật như gia tăng nhiệt độ, mực nước biển dâng cao và xâm nhập mặn.

Ảnh minh họa

Diễn biến xâm nhập mặn ở khu vực này ngày càng mạnh, gây suy giảm đáng kể nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt và sản xuất, đồng thời thu hẹp diện tích đất canh tác nông nghiệp. Trong giai đoạn 2019–2020, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến 10/13 tỉnh của ĐBSCL; ranh giới độ mặn 4 g/L làm tác động đến 42,5% diện tích tự nhiên toàn vùng, tương ứng khoảng 1.688.600 ha—mức cao hơn đáng kể so với năm 2016 (50.376 ha). Khi đất bị nhiễm mặn, cấu trúc vật lý bị phá vỡ và thiếu hụt dinh dưỡng, từ đó làm suy giảm nghiêm trọng năng suất cây trồng, thậm chí có thể khiến đất mất khả năng canh tác.

Trong bối cảnh đó, nhiều hướng tiếp cận đã được đề xuất nhằm giảm mặn và phục hồi đất thông qua các biện pháp thích ứng phù hợp với điều kiện canh tác. Việc trồng luân canh các cây chịu mặn, lựa chọn giống thích hợp và tổ chức cải tạo đất theo hướng tăng khả năng thích nghi với điều kiện nhiễm mặn được xem là những giải pháp quan trọng. Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu sử dụng thực vật để hỗ trợ xử lý đất nhiễm mặn—phytoremediation—đang cho thấy tiềm năng cả về hiệu quả nông học lẫn giá trị kinh tế. Đậu nành (Glycine max L.), mè (Sesamum indicum L.) và hướng dương (Helianthus annuus L.) là các loài cây trồng phổ biến, đồng thời cũng được quan tâm khá nhiều trong các nghiên cứu về khả năng chịu mặn. Tuy nhiên, các công trình trước đây thường tập trung vào ảnh hưởng của mặn lên sinh trưởng và năng suất, trong khi đánh giá khả năng “làm sạch” đất nhiễm mặn thông qua tích lũy/giảm Na⁺ vẫn còn hạn chế, tạo cơ sở cho nghiên cứu này.

Nghiên cứu đánh giá khả năng giảm Na⁺ trong đất nhiễm mặn của đậu nành (MTĐ 305), mè (vỏ đen 2 vỏ Bình Thuận) và hướng dương (TN 282) nhằm tuyển chọn loài cây có triển vọng ứng dụng để cải tạo đất nhiễm mặn. Thí nghiệm được thực hiện trên đất nhiễm mặn nhân tạo với độ dẫn điện trong dịch trích bão hòa (ECe) tương ứng: 1,69 mS/cm (Đ0, đối chứng); 4,10; 7,45 và 8,90 mS/cm (Đ4, Đ6 và Đ8). Kết quả cho thấy sau khi trồng, giá trị ECe giảm xuống khoảng 3,55–6,80 mS/cm so với mức đầu vào 4,10–8,90 mS/cm; đồng thời hàm lượng Na⁺ trong đất giảm rõ rệt, mức giảm lớn hơn ở các nghiệm thức có trồng cây. Na⁺ tích lũy trong sinh khối tương ứng cho hướng dương đạt cao nhất (0,360–0,426 g Na⁺/chậu) và cao hơn so với đậu nành (0,285–0,421 g Na⁺/chậu), mè (0,208–0,291 g Na⁺/chậu), theo thứ tự hiệu quả: hướng dương > đậu nành > mè. Mặc dù thành phần năng suất của cả ba loài đều giảm theo mức độ mặn, song xu hướng này không làm triệt tiêu hoàn toàn giá trị thực tiễn: trọng lượng 100 hạt của đậu nành giảm 11,4–53,5% và mè giảm 12,3–39,7%, riêng hướng dương có mức giảm hoa/cây thấp hơn (5,5–35,8%). Đáng chú ý, hướng dương giúp giảm hàm lượng Na⁺ trong đất mạnh nhất và vẫn duy trì năng suất trên 50%, nhờ đó được đề xuất phù hợp để ứng dụng trong cải tạo đất nhiễm mặn, đặc biệt trong bối cảnh BĐKH tại các vùng sản xuất nông nghiệp của ĐBSCL.

ntdinh
Theo Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2025, 23(7): 889-898
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Video  
 

Video

 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này