Ảnh minh họa: Internet
Cá bè đưng (G. speciosus) là loài cá biển có giá trị kinh tế cao và tiềm năng phát triển nuôi công nghiệp. Loài cá này có thể nuôi lồng trên biển sử dụng thức ăn công nghiệp (Võ Thế Dũng và Võ Thị Dung, 2020). Để đáp ứng yêu cầu con giống cả về chất lượng và số lượng phục vụ phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, việc sản xuất giống nhân tạo là cần thiết. Thực tế cho thấy việc sản xuất giống nhân tạo ở cá biển nói chung và cá bè đưng nói riêng vẫn còn gặp nhiều khó khăn như tỷ lệ thành thục và tỷ lệ sống của ấu trùng thấp trong khi tỷ lệ dị hình cao (Ngô Văn Mạnh và ctv., 2024). Một số nơi trên thế giới, nguồn cung con giống cá bè đưng vẫn còn phụ thuộc vào khai thác tự nhiên (Sim et al., 2007; Kongkeo et al., 2010). Một số trại sản xuất giống đã nỗ lực cho sinh sản nhân tạo, ương nuôi ấu trùng nhưng vẫn còn gặp khó khăn do tỷ lệ sống thấp (Sim et al., 2007; Kongkeo et al., 2010; Broach et al., 2015).
Chất lượng con giống và kỹ thuật quản lý đàn cá bố mẹ vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Hiểu biết về sinh lý sinh sản, nội tiết, chu kỳ phát triển tuyến sinh dục và mùa sinh sản của loài cá này vẫn còn hạn chế và cần tiếp tục làm rõ. Quá trình tích lũy noãn hoàng có quan hệ mật thiết với chu kỳ sinh sản, trong đó gan giữ vai trò then chốt với tư cách là cơ quan chuyển hóa trung tâm, cung cấp các chất cần thiết và năng lượng cho sự phát triển của tuyến sinh dục. Chức năng gan đặc biệt nổi bật ở cá cái và phần lớn được kiểm soát bởi các hormone như estrogen. Ngoài ra, gan là cơ quan chính tổng hợp chất tiền noãn hoàng (vitellogenin, VTG), một loại protein tiền thân quan trọng của noãn hoàng.
Nghiên cứu quy luật biến động hệ số gan trong chu kỳ sinh sản ở cá bè đưng làm cơ sở cho các kỹ thuật chăm sóc và quản lý đàn cá bố mẹ, đặc biệt trong giai đoạn nuôi vỗ thành thục. Quy trình nuôi vỗ cá bố mẹ phù hợp sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm sinh dục, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và chất lượng ấu trùng. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu khoa học về biến động hệ số gan liên quan đến sinh lý và mùa vụ sinh sản, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đàn cá bố mẹ và sản xuất giống.
Cá bè đưng bố mẹ được nuôi trong lồng nổi trên biển (kích thước 4 × 4 × 4 m) tại đầm Nha Phu, Khánh Hòa, Việt Nam. Mật độ nuôi duy trì ở mức 3 kg/m³ với tỷ lệ đực/cái là 1:1. Cá được nuôi trong điều kiện môi trường tự nhiên với độ mặn 30–34‰, nhiệt độ 22–30°C, pH 7,8–8,6 và oxy hòa tan 4,5–6,5 mg/L. Cá bố mẹ được cho ăn hàng ngày bằng cá tạp với lượng thức ăn tương đương 2–3% khối lượng cơ thể. Hàng tháng, tiến hành thu ngẫu nhiên 10 cá cái và 10 cá đực để lấy mẫu gan và tuyến sinh dục. Hệ số gan (HSI, %) được xác định dựa trên tỷ lệ phần trăm khối lượng gan so với khối lượng toàn thân của cá.
Mẫu buồng trứng và tinh sào được cố định và xử lý theo quy trình mô học: khử nước bằng cồn tuyệt đối, làm trong bằng methyl salicylate, sau đó đúc parafin ở 65°C. Mẫu được cắt lát mỏng 5–7 µm bằng máy microtome, làm giãn trong nước ấm, sấy khô, khử parafin bằng xylene và nhuộm bằng Hematoxylin – Mayer và Eosin. Sau khi hoàn tất, tiêu bản được làm khô và đậy lamen. Số liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0. Sự biến động HSI theo tháng được đánh giá bằng phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA), và so sánh trung bình bằng phép thử Duncan ở mức ý nghĩa 95% (α = 0,05). Trước khi phân tích, dữ liệu được kiểm tra phân phối chuẩn và tính đồng nhất phương sai; các phép biến đổi được áp dụng khi cần thiết nhằm đảm bảo các giả định của ANOVA.
Cá bè đưng có mùa vụ sinh sản kéo dài, từ tháng 2 đến tháng 11 ở cá đực và từ tháng 3 đến tháng 10 ở cá cái. HSI có quan hệ với chu kỳ sinh sản. Trong giai đoạn tích lũy noãn hoàng, HSI đạt giá trị cao nhất. Ở cá đực HSI không phải là chỉ số hữu ích để ước tính các giai đoạn phát triển tinh sào ở cá bè đưng. |