Sinh vật [ Đăng ngày (12/04/2026) ]
Đánh giá ảnh hưởng bột ấu trùng ruồi lính đen (Hermetia illucens) thay thế bột cá đến tăng trưởng, hoạt tính enzyme tiêu hóa, enzyme chuyển hóa và trạng thái oxy hóa của cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus) giai đoạn giống
Nghiên cứu do nhóm tác giả Phạm Thị Khanh, Nguyễn Thị Anh Thư, Lê Thành Cường - Trường Đại học Nha Trang và Nguyễn Viết Vương - Trại cá giống Thôn Lương Sơn thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế một phần protein bột cá bằng bột RLĐ đến sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, hoạt tính enzyme tiêu hóa, enzyme chuyển hóa và trạng thái oxy hóa của cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) giai đoạn giống (3–5 cm).

Ảnh minh họa: Internet

Cá hồng Mỹ (S. ocellatus) là loài cá biển có giá trị kinh tế cao, tăng trưởng nhanh, thích nghi tốt với điều kiện nuôi và được xem là đối tượng nuôi tiềm năng tại Việt Nam. Tương tự nhiều loài cá biển ăn thịt khác, cá hồng Mỹ có nhu cầu protein cao và phụ thuộc đáng kể vào bột cá – nguồn protein có độ tiêu hóa cao, giàu axit amin thiết yếu và dễ hấp thu (Hardy & Tacon, 2002). Tuy nhiên, nguồn cung bột cá toàn cầu đang suy giảm trong khi nhu cầu cho ngành thức ăn thủy sản ngày càng tăng, làm giá bột cá tăng và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nuôi thâm canh (FAO, 2009; Hussain et al., 2024). Thức ăn hiện chiếm khoảng 60–70% tổng chi phí sản xuất trong nuôi cá biển, do đó việc tìm kiếm nguồn protein thay thế bền vững là yêu cầu cấp thiết (Radhakrishnan et al., 2020).

Nhiều nguồn protein thay thế đã được nghiên cứu, bao gồm protein thực vật, phụ phẩm động vật và protein từ côn trùng. Trong đó, ấu trùng ruồi lính đen (Hermetia illucens, BSFL) được đánh giá là nguồn nguyên liệu triển vọng nhờ hàm lượng protein cao (40–50%), lipid (15–30%) và thành phần axit amin tương đối cân đối, đặc biệt là lysine và methionine – hai axit amin thường thiếu hụt trong protein thực vật (Makkar et al., 2014). Lipid của BSFL chứa hàm lượng cao axit lauric (C12:0), một axit béo chuỗi trung bình có hoạt tính kháng khuẩn và tiềm năng điều hòa hệ vi sinh đường ruột (Ottoboni et al., 2018; Priyadarshana et al., 2022; Rawski et al., 2025). Ngoài ra, BSFL được xem là nguyên liệu an toàn sinh học, ít nguy cơ tích lũy độc tố và không phải vật chủ truyền bệnh (Lu et al., 2022). Một ưu điểm khác của BSFL là khả năng sinh trưởng trên phế phụ phẩm nông  nghiệp và rác thải thực phẩm, góp phần giảm áp lực môi trường và phù hợp với mô hình kinh tế tuần hoàn (Van Huis, 2021; Fu et al., 2024).

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy BSFL có thể thay thế khoảng 20–50% bột cá trong khẩu phần của nhiều loài cá và giáp xác như cá hồi, cá rô phi, cá chẽm và tôm mà không ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng, FCR hoặc sức khỏe vật nuôi (Nairuti et al., 2022; Oteri et al., 2021; Speranza et al., 2025). Một số nghiên cứu còn ghi nhận sự cải thiện đáp ứng miễn dịch và khả năng chống chịu stress khi sử dụng BSFL ở mức bổ sung phù hợp (Abdel-Latif et al., 2021; Tippayadara et al. 2021). Tuy nhiên, mức thay thế tối ưu vẫn phụ thuộc vào loài, giai đoạn phát triển và đặc điểm khẩu phần (Mohan et al., 2022).

Đối với cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus), nghiên cứu gần đây của Paredes et al. (2025) đã đánh giá ảnh hưởng của BSFL đến tăng trưởng, đặc điểm mô học và cấu trúc hệ vi sinh đường ruột. Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu nhằm xác định mức thay thế tối đa và khả năng ứng dụng BSFL ở quy mô sản xuất, tập trung vào các chỉ tiêu tăng trưởng, FCR, thành phần acid béo và mô học, trong khi chưa làm rõ các cơ chế sinh lý như hoạt tính enzyme tiêu hóa ở giai đoạn cá giống nhỏ.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về BSFL trong thức ăn thủy sản chủ yếu được thực hiện trên một số loài như cá chẽm (Nguyễn Phúc Cẩm Tú và cộng sự, 2023), cá rô phi đỏ (Huỳnh Thị Diễm Khanh và Trịnh Thị Lan, 2019) và cá lóc (Nguyễn Phú Hòa và Nguyễn Văn Dũng, 2016). Phần lớn các thí nghiệm sử dụng mức thay thế bột cá khá cao (25–100%) và tập trung vào giai đoạn cá tăng trưởng hoặc cá thương phẩm. Trong khi đó, ở giai đoạn cá giống, khi hệ tiêu hóa và enzyme chuyển hóa vẫn đang hoàn thiện, cá  thường nhạy cảm hơn với sự thay đổi khẩu phần. Vì vậy, nghiên cứu này lựa chọn dải mức thay thế thấp hơn (2–17%) nhằm xác định mức bổ sung BSFL tối ưu và an toàn cho cá hồng Mỹ giai đoạn giống.

Bên cạnh các chỉ tiêu tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn, hoạt tính enzyme tiêu hóa (protease, amylase và lipase) cũng được đánh giá nhằm làm rõ khả năng chuyển hóa dinh dưỡng khi thay đổi nguồn protein khẩu phần. Một số nghiên cứu cho thấy BSFL có thể duy trì hoặc cải thiện hoạt tính enzyme tiêu hóa nhờ hàm lượng lipid giàu axit lauric và các peptide hoạt tính sinh học giúp ổn định môi trường ruột (Bruni et al., 2018; Oteri et al., 2021).

Trên cơ sở đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế protein bột cá bằng bột ấu trùng ruồi lính đen (Hermetia illucens) ở các mức 2%, 7%, 12% và 17% trong khẩu phần đến sinh trưởng, tỷ lệ sống, hiệu quả sử dụng thức ăn, hoạt tính enzyme tiêu hóa, enzyme chuyển hóa và trạng thái chống oxy hóa của cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) giai đoạn giống. Dải mức 2–17% được thiết kế theo thang tăng dần nhằm phù hợp với đặc điểm sinh lý của cá giống và cho phép xác định ngưỡng đáp ứng sinh lý trước khi xem xét các mức thay thế cao hơn. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển khẩu phần sử dụng nguồn protein thay thế bền vững, góp phần giảm phụ thuộc vào bột cá và nâng cao hiệu quả kinh tế trong nuôi cá biển.
Nghiên cứu cho thấy việc thay thế một phần protein bột cá bằng bột ấu trùng ruồi lính đen (Hermetia illucens) trong khẩu phần cá hồng Mỹ giai đoạn giống không làm suy giảm sinh trưởng, tình trạng cơ thể và tỷ lệ sống. Các mức bổ sung RLĐ từ 2–12% giúp duy trì hoặc cải thiện hoạt tính enzyme tiêu hóa, tăng cường đáp ứng chống oxy hóa và không gây biến đổi bất lợi về enzyme gan. Mức bổ sung 17% RLĐ cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) nhưng đồng thời làm gia tăng hoạt động enzyme gan và stress oxy hóa, cho thấy dấu hiệu gia tăng áp lực chuyển hóa. Nhìn chung, RLĐ có tiềm năng cao như một nguồn protein thay thế bền vững cho bột cá trong khẩu phần cá hồng Mỹ, đặc biệt ở mức thay thế trung bình.

nnttien
Theo Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, Trường ĐH Nha Trang, Số 1/2026
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Tập tục tu báo hiếu học làm người vùng Bảy Núi
Mùa hè cũng là lúc cao điểm số đông thanh niên Khmer (đặc biệt là vùng Bảy Núi, An Giang) bắt đầu vào mùa tu báo hiếu. Đây là một tập tục truyền thống lâu đời mang ý nghĩa báo hiếu ông bà, cha mẹ theo tín ngưỡng Phật giáo Nam tông Khmer của đồng bào Khmer.




Video




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này