Ảnh minh họa
Do kim loại nặng có tính bền vững và khó bị loại bỏ triệt để, khi xâm nhập vào nguồn nước sinh hoạt với nồng độ vượt mức cho phép sẽ kéo theo nguy cơ gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm, đe dọa trực tiếp sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, việc nghiên cứu và bảo vệ môi trường nước trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia, đồng thời cũng là yêu cầu thiết thực tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, nhiều công trình đã tập trung đánh giá mức độ và sự phân bố của kim loại nặng trong trầm tích sông và trầm tích biển. Nghiên cứu của TS. Bùi Thị Thư (2018) khảo sát hàm lượng Cu, Pb, Cd tại 12 vị trí dọc sông Cầu (qua Bắc Giang và Bắc Ninh) trong tháng 01 và 04/2018 cho thấy Pb đạt giá trị cao nhất (113,20–203,91 mg/kg trầm tích khô), tiếp theo là Cu (20,22–77,34 mg/kg), còn Cd thấp hơn (0,22–1,28 mg/kg); đặc biệt, hàm lượng Pb vượt QCVN 43:2017/BTNMT. Trịnh Thị Thắm và cộng sự (2022) khi đánh giá Cu, Pb, Cd và Cr trên 20 mẫu trầm tích hạ lưu sông Hồng nhận định nhìn chung thấp hơn giới hạn theo QCVN 43:2017/BTNMT, nhưng lại cao hơn giá trị thấp nhất theo hướng dẫn bảo vệ hệ thủy sinh của Ontario (Canada, 1993). Ngoài so sánh với quy chuẩn, các chỉ số như (I_{\text{geo}}) (chỉ số tích lũy địa chất) còn được sử dụng để phản ánh mức độ tích lũy và nguy cơ ô nhiễm theo thời gian, qua đó hỗ trợ đánh giá toàn diện hơn về ô nhiễm kim loại.
Từ thực tế quan trắc tại Thái Bình, vùng biển ven bờ với 5 cửa sông (Ba Lạt, Trà Lý, Diêm Điền, cửa Lân và cửa Thái Bình) cho thấy trong giai đoạn 2016–2020, chất lượng nước biển nhìn chung ở mức tương đối tốt; tuy nhiên, một số đợt quan trắc ghi nhận TSS và Coliform vượt QCVN 10-MT:2015/BTNMT (TSS vượt 1,04–1,6 lần ở 20/50 mẫu; Coliform vượt 1,1–5,5 lần ở 18/50 mẫu). Dù vậy, việc đánh giá kim loại nặng trong trầm tích sông và trầm tích biển vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế biển như du lịch, cảng biển và nuôi trồng thủy hải sản đang tạo áp lực lớn lên môi trường và hệ sinh thái, nghiên cứu này hướng tới việc bổ sung dữ liệu khoa học về mức độ tích lũy của Pb, Cd, As, Cu và Zn trong trầm tích mặt tại vùng ven biển Thái Bình, đồng thời tính toán (I_{\text{geo}}) để nhận diện nguy cơ tiềm ẩn và làm cơ sở cho định hướng quản lý bền vững. Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa, lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm; các mẫu trầm tích được thu vào tháng 7/2024 (mùa mưa) tại ba cửa sông là Thái Bình, Diêm Hộ và Trà Lý, với đặc thù kinh tế khác nhau. Kết quả cho thấy hàm lượng các kim loại dao động trong khoảng 0,043–145,833 mg/kg, giá trị nhỏ nhất thuộc về Cd tại vị trí sông Thái Bình (TB4) và giá trị lớn nhất thuộc về Zn tại cửa sông Diêm Hộ (DH3); nhìn chung đều thấp hơn giới hạn chất lượng trầm tích theo QCVN 43:2017/BTNMT. Xu hướng hàm lượng trung bình giảm dần theo thứ tự Zn > Pb > Cu > As > Cd, và chỉ số (I_{\text{geo}}) chỉ ra cửa sông Diêm Hộ là khu vực có mức tích lũy kim loại nặng cao hơn hai cửa sông còn lại, đặc biệt đối với Pb, Cd. |