Hình. Hình thái lá giống nhau của các loài nghiên cứu
Chi Ba bét (Mallotus Lour.) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), gồm 33 loài ở Việt Nam (Nguyen, 2007). Trong số đó, 11 loài Ba bét có giá trị làm thuốc, đặc biệt ba loài bục lá sáp (M. floribundus (Blume) Müll. Arg.), cánh kiến (Mallotus philippensis (Lam.) Müll. Arg.) và bục lọng (M. peltatus (Geiseler) Müll. Arg.) là những cây thuốc có vùng phân bố rộng khắp cả nước và được sử dụng để chữa nhiều bệnh trong dân gian (Nguyen et al., 2022; Do, 2000; Vo, 2012). M. philippensis được dùng để giảm đau, sát trùng, cầm máu, chữa các bệnh ngoài da; M. floribundus được dùng để chữa sốt, trị tiêu chảy, nhiễm trùng phụ khoa (Rivière et al., 2010); M. peltatus ăn sống để chữa đau bụng (Bhargava, 1983). Các nghiên cứu hóa sinh cho thấy ba loài này sinh tổng hợp nhiều hợp chất có dược tính cao. Cụ thể, M. floribundus chứa nhiều tannins có khả năng chống oxy hóa (Nguyen et al., 2011; Nguyen et al., 2009). M. peltatus có chứa các hợp chất như axit ursolic và β- sitosterol có tác dụng kháng khuẩn, bảo vệ gan, hạ sốt (Chattopadhyay et al., 2002, 2003). M. philippensis có chứa rottlerin có tác dụng kháng viêm, ức chế protein kinase và chống ung thư (Furusawa et al., 2005; Yin et al., 2016; Liao et al., 2005), mallotophilippen F có khả năng kháng vi khuẩn gây bệnh lao (Nguyen et al., 2010).
Theo hệ thống phân loại về hình thái, loài M. philippensis thuộc nhánh Philippinenses (với quả phủ dày đặc tuyến hạt; có ba gân gốc, khi khô không có mùi hắc), còn hai loài M. peltatus và M. floribundus thuộc nhánh Stylanthus (với quả có tuyến hạt rải rác hoặc không; lá mọc gần như đối ở đầu cành, gân lông chim hoặc chân vịt 5 - 9 gân gốc, khi khô có mùi hắc) (Nguyen, 2007). Trong tự nhiên, do ảnh hưởng của điều kiện sống, ba loài này có nhiều dạng hình thái thân và lá tương tự nhau nên người thu hái dược liệu rất dễ nhận diện nhầm (Hình 1), đặc biệt là khi thu hái vào mùa không có hoa, quả. Cụ thể, cả ba loài đều là các cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi, lá mọc so le hoặc mọc đối/gần đối; hình dạng lá hình trứng thuôn, gốc lá tròn, chót lá có mũi, mép lá phẳng hoặc có gợn răng cưa nông. Riêng loài M. peltatus lá có thể dạng lọng, gân chân vịt giống lá của loài M. floribundus hoặc không dạng lọng, ba gân gốc giống lá M. philippensis. Khu vực phân bố của ba loài xen lẫn nhau làm tăng nguy cơ thu hái nhầm. Để khai thác tài nguyên cây thuốc hợp lý, việc xác định chính xác loài thực vật là một trong những yêu cầu quan trọng. Việc định danh loài bằng chỉ thị DNA là phương pháp hiệu quả, có thể được thực hiện trên mẫu mô nhỏ, không nguyên vẹn như dược liệu đã sơ chế.
Kết quả nghiên cứu các chỉ thị DNA khác nhau ở trên nhiều loài thực vật cho thấy không có một chỉ thị DNA toàn năng có khả năng phân biệt được tất cả các loài. Tổ hợp nhiều chỉ thị DNA thường được sử dụng phối hợp. Bốn chỉ thị trnL-F (trnL intron and trnL-trnF intergenic spacer), ITS (rDNA internal transcribed spacer), ncpGS (glutamine synthetase) và phyC (phytochrome C) được dùng để nghiên cứu phát sinh chủng loại của chi Ba bét và một số chi khác thuộc họ Thầu dầu (Kulju et al., 2007). Kết quả cho thấy chi Ba bét không phải là một nhóm đơn nguồn (monophyly). Chi Ba bét có thể được biến thành nhóm đơn nguồn nếu tách các loài thuộc nhánh Hancea và Oliganthae ra khỏi chi và gộp các loài thuộc chi Coccoceras, Neotrewia, Octospermum và có thể cả Trewia vào chi Ba bét (Kulju et al., 2007). Sau đó, hai chỉ thị khác là matK (maturase K) và gpd (glyceraldehyde-3-phosphate dehydrogenase) được kết hợp với đặc điểm hình thái để phân tích phát sinh chủng loại trong nội bộ chi Ba bét (Sierra et al., 2010). Ba nhánh Mallotus, Polyadenii và Stylanthus là các nhóm đơn nguồn; còn ba nhánh Philippinenses, Axenfeldia và Rottleropsis không đơn nguồn. Ngoài ra, có thể lập thêm vài nhánh khác trong chi Ba bét dựa trên phát sinh chủng loại (Sierra et al., 2010). Trên cơ sở đánh giá riêng rẽ từng chỉ thị DNA hay tổ hợp gồm hai hoặc ba chỉ thị DNA lục lạp, tổ hợp hai chỉ thị matK và rbcL (ribulose-1,5-bisphosphate carboxylase/oxygenase large subunit) đã được đề xuất làm bộ chỉ thị DNA tối thiểu để định danh thực vật (Hollingsworth et al., 2009). Kết quả nghiên cứu thêm chỉ thị ITS và ITS2 (Hình 2) cho thấy ITS có thể phân biệt được 96% số loài, còn ITS2 phân biệt được 90% số loài trong số 871 loài thuộc họ Thầu dầu (Pang et al., 2010). Sau đó, ITS được đề xuất bổ sung vào bộ chỉ thị cốt lõi cùng với matK và rbcL dựa trên kết quả phân tích trên gần 1800 loài thực vật (Li et al., 2011). Bộ chỉ thị cốt lõi này đã giúp khẳng định khu vực phân bố mới của loài M. tokiae ở Myanmar (Toyama et al., 2020). Gần đây, hai chỉ thị ITS và matK được dùng làm minh chứng cho việc thiết lập loài mới Mallotus bullatus (Yu et al., 2024).
Trong nghiên cứu này, ba chỉ thị cốt lõi của thực vật matK, rbcL và ITS được giải trình tự và đánh giá khả năng phân biệt ba loài M. philippensis, M. peltatus và M. floribundus. Kết quả nghiên cứu cho thấy bộ ba chỉ thị, bộ hai chỉ thị bao gồm ITS hay riêng chỉ thị ITS/ITS1/ITS2 đơn lẻ đều phân biệt được ba loài có hình thái dễ nhầm lẫn này. Đây là công bố đầu tiên về ứng dụng chỉ thị DNA nhằm phân biệt các loài thuộc chi Ba bét ở Việt Nam.
Trong nghiên cứu này, ba chỉ thị DNA cốt lõi cho thực vật là rbcL, matK và ITS được nghiên cứu để phân biệt ba loài dược liệu có hình thái tương tự là M. floribundus, M. peltatus và M. philippensis. Qua thời gian nghiên cứu, kết quả cho thấy, tổ hợp ba chỉ thị ITS + matK + rbcL, hai chỉ thị ITS + matK hoặc ITS + rbcL, hoặc chỉ riêng một chỉ ITS, ITS1 hoặc ITS2 đều có khả năng phân biệt được ba loài dược liệu dễ nhầm lẫn là bục lá sáp (M. floribundus (Blume) Müll. Arg.), cánh kiến (M. philippensis (Lam.) Müll. Arg.) và bục lọng (M. peltatus (Geiseler) Müll. Arg.). Sự khác biệt giữa các mẫu thuộc ba loài này có thể được xác định thông qua p-distance cũng như cây phát sinh chủng loại. Tuy nhiên, việc phân tích cần được thực hiện thêm trên nhiều mẫu cùng loài để xác định được giá trị giới hạn của p-distance. |