Nông nghiệp [ Đăng ngày (28/02/2026) ]
Bắc Ninh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp
Thời gian tới, tỉnh Bắc Ninh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học đê tập trung nghiên cứu thử nghiệm, chọn tạo và nhân rộng các loại giống lúa, cây ăn quả, rau màu, nấm ăn, nấm dược liệu, cây lâm nghiệp...làm phong phú thêm các nguồn vật liệu lai tạo giống mới hoặc tái sản xuất, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương...

Tỉnh Bắc Ninh có tổng diện tích 471.860 ha. Trong đó đất sản xuất nông nghiệp là: 184.340 ha; đất lâm nghiệp: 146.130 ha. Đây là nguồn lực rất lớn cho phát triển ngành trồng trọt tỉnh. Tỉnh đã triển khai nhiều nhiệm vụ khoa học công nghệ ứng dụng công nghệ sinh học nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, phục tráng và bảo tồn nguồn gen, ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô, vi nhân giống, chiết, ghép, giâm hom,… để cải thiện, nhân nhanh giống cây trồng và bảo tồn đa dạng sinh học.

Đối với ngành hàng lúa gạo: Nghiên cứu, khảo nghiệm các dòng lúa thuần mới có năng suất cao hơn đối chứng >10%, chất lượng tốt, phù hợp điều kiện sinh thái tỉnh, hướng tới xuất khẩu. Ứng dụng kỹ thuật canh tác lúa hữu cơ, xây dựng mô hình sản xuất bền vững giống lúa thơm Gia Lộc 25 nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Với cây ăn quả: Nghiên cứu phân bón chuyên dùng cho cây vải tại huyện Tân Yên và Lục Ngạn ; hoàn thiện quy trình quản lý bệnh vàng lá cam, giảm tỷ lệ bệnh 15%; trồng thử nghiệm giống nho Mẫu đơn, táo VC01, và hoàn thiện quy trình chế biến chuối tiêu hồng bằng công nghệ enzyme theo chuỗi giá trị hướng xuất khẩu; Cây lâm nghiệp: Nghiên cứu bảo tồn và phát triển cây Đào chuông phân bố tại khu vực Tây Yên Tử ; nghiên cứu bảo tồn nguồn gen loài Lim xanh trên địa bàn tỉnh ; Bảo tồn và phát triển nguồngen cây Săng Mã; nghiên cứu xây dựng rừng trồng thâm canh Vù hương...

Trong hoạt động sản xuất giống: Ứng dụng nuôi cấy mô trong sản xuất giống chuối tiêu hồng, hoa cúc, khoai tây siêu nguyên chủng, tạo giống có sức chống chịu tốt, hiệu quả kinh tế cao, được nhân rộng trên địa bàn; Sản xuất phân bón: Mô hình sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rơm rạ sau thu hoạch ngay tại ruộng với quy mô diện tích 50 ha,... đã tạo ra phân bón cung cấp cho cây trồng vụ sau. Tăng cường sử dụng phân bón vi sinh trong trồng trọt, lượng sử dụng trung bình khoảng 15.000 tấn/năm. Năm 2024 tỉnh đã có 1 sản phẩm phân bón hữu cơ sinh học công bố hợp quy.

Phát huy những kết quả đã đạt được, tại Đề án Ứng dụng công nghệ sinh học xây dựng và phát triển ngành công nghiệp sinh học tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, tỉnh Bắc Ninh đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ ứng dụng công nghệ sinh học trong một số lĩnh vực quan trọng, xây dựng và phát triển ngành công nghiệp sinh học của tỉnh, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp. 

Theo đó, đối với cây trồng nông, lâm nghiệp tỉnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học cải tiến tính trạng quý trên các loại cây trồng nông, lâm nghiệp chủ lực, sản xuất theo hướng hàng hóa phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Tiếp cận, làm chủ công nghệ gen thế hệ mới/công nghệ chỉnh sửa gen trong nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng nông, lâm nghiệp mang tính trạng chống chịu sâu, bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu, có năng suất, chất lượng vượt trội phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp.

Làm chủ công nghệ nhân giống vô tính đối với một số cây trồng nông, lâm nghiệp quy mô công nghiệp; nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu. Nghiên cứu thử nghiệm, chọn tạo giống, lai giống cây trồng chủ lực, có đặc tính ưu việt, chống chịu sâu, bệnh, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện của tỉnh.

Tập trung nghiên cứu thử nghiệm, chọn tạo và nhân rộng các loại giống lúa, cây ăn quả, rau màu, nấm ăn, nấm dược liệu, cây lâm nghiệp, cây lâm sản ngoài gỗ,…góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, làm phong phú thêm các nguồn vật liệu lai tạo giống mới hoặc tái sản xuất, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Ưu tiên ứng dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật, nhân hom, chiết, ghép, giâm ngọn…để nhân nhanh một số đối tượng cây lâm nghiệp bản địa có đặc tính ưu việt, sạch bệnh, chất lượng gỗ tốt đáp ứng yêu cầu trồng, bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng, nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu, phát triển kinh tế lâm nghiệp. 

Địa phương này ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ bảo vệ và phát triển rừng theo hệ sinh thái tự nhiên; sử dụng các phế phụ phẩm trong quá trình chế biến gỗ làm nguyên liệu chế biến phân bón phục vụ trong trồng trọt. Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn và phát triển các loại lâm sản ngoài gỗ như: ba kích, trà hoa vàng, nấm lim xanh,… Quy trình công nghệ, kĩ thuật canh tác;

Nghiên cứu xác định nhóm công nghệ sinh học chiến lược, nhóm công nghệ sinh học có thể ứng dụng ngay, nhóm công nghệ cần hoàn thiện để chuyển giao vào thực tiễn sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phát triển công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp an toàn, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn.

Về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cây trồng và đất trồng trọt: Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học tạo các chế phẩm sinh học thế hệ mới, kít chẩn đoán, quản lý dịch bệnh cây trồng (IBM, ICM) và kiểm soát dư lượng các chất cấm trong nông sản có nguồn gốc từ cây trồng và giám định, chẩn đoán độ phì nhiêu, sức khỏe đất trồng trọt, nước tưới.

Phát triển và làm chủ công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học quy mô công nghiệp, như: phân bón vi sinh, thuốc BVTV sinh học, chế phẩm sinh học trong bảo quản, chế biến, xứ lý ô nhiễm môi trường, đảm bảo an toàn thực phẩm và sức khỏe con người, vật nuôi; tạo cơ sở hình thành nền kinh tế nông nghiệp tuần hoàn mang lại giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững.

Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong phục tráng, bảo tồn nguồn gen; công nghệ tế bào, công nghệ vi nhân giống để cải thiện nguồn giống thoái hóa, cải tiến tính trạng quý trên các loại cây trồng chủ lực, tạo ra các loại giống mới, có đặc tính ưu việt, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh, giống đặc hữu (san Nhị sắc Gia Bình,...); Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học thế hệ mới, các chế phẩm quy mô công nghiệp, phân hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, sử dụng rộng rãi các loại bẫy bả, chất dẫn dụ và các chế phẩm sinh học khác trong quá trình sản xuất.

Về vật nuôi, thủy sản: Nghiên cứu thử nghiệm, chọn tạo ra các giống vật nuôi chủ lực, có đặc tính ưu việt, có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện của tỉnh. - Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn, phục tráng và phát triển các giống vật nuôi bản địa, ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học tạo con lai có ưu thế về năng suất, chất lượng như: gà lông cằm, gà sáu ngón, dê Bore,…

Nghiên cứu cải tiến, ứng dụng công nghệ sinh sản, đặc biệt là công nghệ tế bào động vật trong đông lạnh tinh, phôi và cấy chuyển hợp tử, thụ tinh nhân tạo, kiểm soát giới tính; áp dụng phương pháp chỉ thị phân tử, công nghệ chuyển gen trong chọn tạo các giống vật nuôi mới có nhiều tính trạng vượt trội.

Nghiên cứu thử nghiệm và nhân rộng các mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm từ một số giống mới có năng suất, chất lượng cao, sức chống chịu và kháng bệnh tốt, hoặc từ quy trình sản xuất mới, quy trình an toàn sinh học, đáp ứng các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm và đạt hiệu quả kinh tế cao.

Xây dựng và áp dụng rộng rãi các quy trình chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng an toàn sinh học: công nghệ Biofloc, công nghệ enzym, protein, vi sinh vật tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng; các chế phẩm kích thích sinh trưởng, phát triển; các chế phẩm nâng cao sức đề kháng và các chất phụ gia thức ăn có nguồn gốc kháng sinh được phép sử dụng trong hệ thống nuôi thâm canh.

Về bảo quản sau thu hoạch: Ứng dụng và làm chủ công nghệ phát triển phương pháp, bộ sinh phẩm phục vụ kiểm định, đánh giá an toàn và chất lượng thực phẩm từ cây trồng, vật nuôi, thủy sản; giám định, chẩn đoán tác nhân gây bệnh làm giảm chất lượng nông sản, thực phẩm; công nghệ tạo chế phẩm sinh học để nâng cao giá trị gia tăng các phụ phẩm chế biến sau thu hoạch sản phẩm nông, lâm, thủy sản. Phát triển công nghệ tạo chế phẩm sinh học phục vụ sơ chế, bảo quản đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

Nghiên cứu phát triển, hoàn thiện các quy trình công nghệ, thiết bị ứng dụng công nghệ, ứng dụng công nghệ vi sinh, công nghệ enzym và protein để sản xuất các sản phẩm sinh học an toàn cho sức khỏe con người, phục vụ bảo quản, chế biến sản phẩm nông, lâm, thủy sản nhằm thay thế các loại phụ gia thực phẩm có nguồn gốc từ hóa học dùng trong thực phẩm để bảo đảm chất lượng ổn định và có sức cạnh tranh cao trên thị trường.

Tập trung vào các công nghệ theo chuỗi công nghệ khép kín, sản xuất tuần hoàn đối với từng nhóm nguyên liệu sản xuất trong nước (các sản phẩm nông sản, thủy sản, nấm ăn, nấm dược liệu, cây dược liệu, cây chè, thịt,…) nhằm phục vụ cho việc mở rộng, nâng cấp các các cơ sở chế biến thực phẩm trên địa bàn tỉnh. Thúc đẩy hình thành và mở rộng các doanh nghiệp công nghiệp sinh học phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp.

Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào các hoạt động tiếp nhận và chuyển giao công nghệ sinh học để phục vụ công nghiệp chế biến; sản xuất và sử dụng năng lượng mới, năng lượng sạch, có khả năng tái tạo, thân thiện với môi trường. Hỗ trợ, phát triển các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học công nghệ; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học.

Khuyến khích đầu tư các dự án công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học phục vụ sơ chế, bảo quản đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm; chế phẩm cho thực phẩm lên men tự nhiên; công nghệ chế biến sản phẩm giá trị cao từ nguyên liệu của tỉnh phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.../.

Thùy Trang
Theo https://thiennhienmoitruong.vn (ttkdinh)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Video




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->