Hơn nữa sự đa dạng hình thức nuôi như vèo ao, vèo kênh, bạt nhựa phù hợp với điều kiện của nhiều hộ dân.Tuy nhiên, một trong những trở ngại thường gặp trên cá lóclà bệnh ký sinh trùng thường xảy ra khi nuôi mật độ cao. Đặc biệt, bệnh nội ký sinh thường xảy ra ở hầu hết giai đoạn nuôi gây ảnh hưởng sức khỏe cá nuôi và làm giảm khả năng tăng trưởng của cá. Mục tiêu của bài viết này nhằm cung cấp thêm thông tin về bệnh ký sinh trùng ở cá lóc góp phần hỗ trợ cho người nuôi trong việc chăm sóc sức khỏe cá nuôi hiệu quả hơn.
Nhóm động vật đơn bào - Protozoa:
Thành phần giống KST thuộc nhóm động vật đơn bào ký sinh trên cá lóc nuôi thâm canh gồm những giống như Myxobolus,Trichodina,Chilodonella,Epistylis,Tripartiella,Apiosoma vàHenneguya Nhóm ký sinh trùng đa bào - Metazoa:
Thành phần giống KST đa bào ký sinh trên cá lóc nuôi thâm canh gồm những giống như sán lá đơn chủ Trianchoratus ký sinh ở mang; sán lá 18 móc Gyrodactylus ký sinh ở da và mang; sán dâyProteocephalus ký sinh ở ruột; giun tròn Spinitectus ký sinh trên dạ dày ruột, bóng hơi; giun đầu gai Pallisentis ký sinh ở ruột.
Nhóm giáp xác - Crustacea:
Thành phần nhóm giáp xác ký sinh trên cá lóc nuôi thâm canh gồm những giống như Ergasilus ký sinh ở mang,Lamproglena ký sinh ở mang,trùng mỏ neoLernaea ký sinh ở da, và rận cá Argulus ký sinh trên da.
Phương pháp phòng bệnh:
Phòng bệnh là giải pháp tối ưu cho việc thâm canh trong nuôi trồng thủy sản. Một số giải pháp cần thực hiện cho việc phòng bệnh nuôi thâm canh cá lóc:
- Chuẩn bị ao nuôi kỹ, sên vét bùn, xử lý đáy ao bằng vôi nông nghiệp 10-20 kg/100 m2.
- Mật độ thả nuôi không quá dầy, trung bình 30-50 con/m2.
- Định kỳ tạt nước vôi xuống ao với liều lượng 3-5 kg/100 m2 khi môi trường ao nuôi ngày càng xấu dần ở những tháng cuối vụ nuôi.
- Định kỳ bón Zeolite làm sạch đáy ao liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì.
- Hoặc định kỳ diệt mầm bệnh bằng phức hợp Iodine theo hướng dẫn nhà sản xuất được ghi trên nhãn thuốc,tạt đều ao.
Phương pháp trị bệnh:
Giải pháp trị bệnh trong nuôi cá nói chung là phải có sự kết hợp giữa xử lý môi trường ao nuôi, tăng sức đề kháng và tiêu diệt mầm bệnh. Sau đây là một số loại thuốc, hóa chất có khả năng diệt nội và ngoại ký sinh:
- Đồng sulphát (phèn xanh): chuyên trị ngoại ký sinh, liều lượng sử dụng 0,2–0,5 g/m3 hòa tàn tạt đều ao. Lưu ý để sử dụng đồng hiệu quả cần phải đo độ kiềm trong nước, lượng đồng sulphát sử dụng bằng 1% độ kiềm của nước ao nuôi.
- Praziquantel: chuyên trị nội ngoại ký sinh, liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Trifluoromethyl:chuyên trị nội ký sinh, liều lượng sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. |