Môi trường

Nước thải từ hoạt động chăn nuôi lợn tại Việt Nam đang trở thành một trong những nguồn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Theo ước tính của Cục Chăn nuôi, ngành chăn nuôi thải ra khoảng 73 triệu tấn chất thải rắn mỗi năm, trong đó chất thải từ chăn nuôi lợn chiếm khoảng 24,38 triệu tấn, tương đương 33,4% tổng lượng chất thải. Đáng chú ý, khoảng 50% chất thải rắn và 80% chất thải lỏng từ chăn nuôi lợn được xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý, dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng. Nước thải chăn nuôi lợn chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng như nitơ và phốt pho, cùng với vi sinh vật gây bệnh, gây ra mối đe dọa lớn đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường.
Trong những năm gần đây, chất thải rắn sinh hoạt gia tăng cả về thành phần, khối lượng, tính độc hại, gây ô nhiễm môi trường ở một số đô thị ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu này là đánh giá thực trạng công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp cho công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại quận Liên Chiểu. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu, phương pháp điều tra thực địa và xử lý số liệu.
Xanh methylene (MB) là loại thuốc nhuộm azo bền, có khả năng chống chịu tốt với axit, bazo, có cấu trúc phức tạp, ổn định trong không khí, ít thay đổi về mặt cấu trúc hóa học và được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp y sinh, nhuộm, thuộc da, giấy, v.v. Nước thải chứa thuốc nhuộm nói chung và MB nói riêng được tạo ra trong quá trình sản xuất có sử dụng MB thường có nồng độ, độ màu cao, khó tự phân hủy và gây ra nhiều hệ lụy nếu thải trực tiếp vào môi trường như ô nhiễm chất hữu cơ và lượng oxi hòa tan sẽ giảm đi. Khi nồng độ ô nhiễm tăng cao có thể gây chết hàng loạt cho các loài thực vật, động vật thủy sinh và làm hỏng hệ sinh thái dưới nước. Ngoài ra, MB có thể gây tổn thương không thể phục hồi cho mắt người, nhịp tim tăng, nôn mửa, thậm chí là gây ung thư. Do đó, việc tìm ra phương pháp xử lý MB khỏi dòng chất thải trước khi thải vào nguồn nước với chi phí thấp, áp dụng hiệu quả và thân thiện với môi trường sinh thái là rất quan trọng.
Ô nhiễm asen (As) trong đất là một vấn đề môi trường nghiêm trọng, có tác động sâu rộng đến chất lượng đất, sức khỏe con người và động thực vật. Với khả năng tích tụ trong môi trường, As không chỉ làm giảm độ phì nhiêu của đất mà còn gây ra những rủi ro lớn cho hệ sinh thái, bao gồm sự suy giảm đa dạng sinh học và nguy cơ tích tụ As trong chuỗi thực phẩm.
Khai thác khoáng sản đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Việt Nam, cung cấp nguyên liệu thiết yếu cho các ngành công nghiệp và đóng góp lớn vào GDP. Năm 2022, ngành khai khoáng chiếm khoảng 7,1% GDP với giá trị sản xuất hơn 406.000 tỷ đồng, trong đó xuất khẩu dầu thô và than đá đóng góp gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngành này không chỉ tạo việc làm cho hơn 400.000 lao động trực tiếp mà còn hàng triệu lao động gián tiếp, đồng thời thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng tại các khu vực khai thác. Tuy nhiên, sự phát triển bền vững trong ngành khai thác khoáng sản là một thách thức lớn, đòi hỏi phải chú trọng đến bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên một cách hiệu quả. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc khai thác khoáng sản có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường, như ô nhiễm nước mặt và nước ngầm, cũng như suy giảm chất lượng đất. Do đó, việc áp dụng các phương pháp khai thác có trách nhiệm và bền vững là cần thiết để giảm thiểu những tác động này. Việc tích hợp các khái niệm sinh thái công nghiệp vào quản lý chất thải và thực hiện các hoạt động phục hồi sau khai thác là những biện pháp quan trọng để đảm bảo tính bền vững trong ngành. Ngoài ra, việc phát triển công nghệ xanh trong khai thác khoáng sản cũng là một yếu tố quan trọng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc cải thiện hiệu suất và tính bền vững của các phương pháp khai thác có thể đạt được thông qua đổi mới công nghệ và tối ưu hóa quy trình khai thác. Hơn nữa, việc thực hiện các báo cáo bền vững trong ngành khai thác khoáng sản cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội và môi trường của các công ty khai thác.
Nước thải phát sinh từ các hoạt động của con người như công nghiệp, thương mại, dân dụng và nông nghiệp,... được coi là một nguồn gây ô nhiễm lớn đối với môi trường. Để giảm thiểu tác động tiêu cực và bảo vệ chất lượng môi trường nước, việc xử lý nước thải trước khi thải ra là cần thiết. Quá trình này thường được thực hiện tại nhà máy xử lý nước thải WWTP (Wastewater treatment plants) thông qua quá trình xử lý bùn hoạt tính sinh học. WWTP là một hệ thống lớn, phức tạp, có độ trễ và tính phi tuyến tính, mà trong đó các quá trình sinh lý và sinh hóa bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của lưu lượng nước thải đầu vào.
Tại Việt Nam, tình hình ô nhiễm nước mặt ngày càng trở lên phổ biến do chúng tiếp nhận nước thải không qua xử lý từ các nguồn sinh hoạt, công nghiệp,. Ô nhiễm nước mặt gây nhiều vấn đề như mất vệ sinh và mĩ quan (màu đen, mùi hôi thối), suy giảm chất lượng hệ sinh thái thuỷ sinh (phú dưỡng, độc chất) và từ đó ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của con người. Xử lý ô nhiễm nước mặt đòi hỏi biện pháp quản lý tổng hợp, trong đó ứng dụng các biện pháp sinh thái ngày càng được chú ý.
Ô nhiễm nguồn nước ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, trong đó ô nhiễm thuốc dệt nhuộm sẽ gây mất mỹ quan và ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái. Crystal violet (CV) là thuốc nhuộm cation được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp dệt nhuộm, khi tiếp xúc trực tiếp có thể gây nguy hại cho sinh vật và con người như đột biến, nhiễm trùng máu, và ung thư.
Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng về nước mặt thuộc loại cao trên thế giới với mạng lưới sông ngòi dày đặc. Hiện trên cả nước có 108 lưu vực sông với 13 lưu vực sông lớn và quan trọng; 3.140 con sông với khoảng trên 2.300 con sông có chiều dài hơn 10 km. Tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm của nước ta khá lớn, vào khoảng 847 km3.
Hiện nay, nguồn cung cấp nước sạch đang giảm liên tục khiến cho việc thiếu nước sạch trở thành thách thức toàn cầu. Căng thẳng về nước cũng có thể do khí hậu và thiên tai dẫn đến phá hủy hồ chứa nước, suy giảm chất lượng nước sông, ô nhiễm nước ở các sông đô thị do khả năng tự làm sạch tương đối thấp, và xả thải không kiểm soát của các thành phố và nước thải công nghiệp không được xử lý thích hợp. Thống kê cho thấy nhu cầu sử dụng nước sạch trên toàn cầu đã tăng gấp sáu lần trong 100 năm qua và đang tiếp tục tăng với tốc độ khoảng 1%/năm kể từ những năm 1980. Dự báo đến khoảng năm 2030, có khoảng 60 quốc gia lâm vào tình trạng thiếu nước trầm trọng do nhu cầu về nguồn nước của con người sẽ vượt ngưỡng cung tới 40%. Và tới năm 2050, tình trạng thiếu nước sạch được cho là sẽ đe dọa hơn một nửa dân số toàn cầu. Vào năm 2021, hơn 2 tỷ người sống ở các quốc gia bị căng thẳng về nước, dự kiến tình trạng này sẽ trở nên trầm trọng hơn ở một số khu vực do biến đổi khí hậu và tăng trưởng dân số. Vào năm 2022, trên toàn cầu có ít nhất 1,7 tỷ người sử dụng nguồn nước uống bị nhiễm phân. Ô nhiễm vi sinh vật trong nước uống do ô nhiễm phân có nguy cơ lớn nhất đối với an toàn nước uống. Trong khi các rủi ro hóa học quan trọng nhất trong nước uống phát sinh từ asen, florua hoặc nitrat, các chất gây ô nhiễm mới nổi như dược phẩm, thuốc trừ sâu, chất per- và polyfluoroalkyl (PFAS) và vi nhựa gây ra mối lo ngại cho công chúng.
Trước 1 2 3 4 5 6 7 8 9 [10] Tiếp

Video




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này