Nông - Lâm - Ngư nghiệp [ Đăng ngày (16/03/2026) ]
Đánh giá hiệu quả sử dụng bẫy pheromone giới tính dẫn dụ bọ hà Cylas formicarius (Fabricius) gây hại trên cây khoai lang Ipomoea batatas L. Lam.
Việt Nam nằm trải dài từ 8,6 đến 23,4 độ Bắc, nằm vỏn vẹn trong vùng khí hậu nhiệt đới. Mặc dù không phải là nơi lý tưởng để phát triển và sản xuất các giống lúa Japonica, song các nghiên cứu về lúa Japonica đã được triển khai trên nhiều cơ quan và dự án khoa học, mang lại những thăm dò và kết quả đáng chú ý (Lê Quốc Thanh & Phạm Văn Dân, 2018).

Ảnh minh họa
Trong bối cảnh khu vực Đông Bắc Á, các nước như Nhật Bản và Hàn Quốc vốn sản xuất lượng gạo Japonica ở mức cao nhưng thị trường và chi phí giao dịch vẫn có nhiều thách thức. Do đó, các quốc gia lân cận như Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan đã nhập khẩu và thử nghiệm các giống lúa Japonica từ Nhật Bản và Hàn Quốc nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, cải thiện sản xuất và mở rộng nguồn cung cho xuất khẩu. Việt Nam đã đưa các giống Japonica ra khu vực không chỉ ở Bắc mà còn xuống đồng bằng sông Cầu Long, thể hiện sự nỗ lực đa dạng hóa nguồn gen và mở rộng vùng trồng lúa Japonica đến những vùng khu vực mới (Nguyễn Thị Pha và cộng sự, 2021). Trong bối cảnh giá trị sản phẩm ngày càng cao, các viện và học viện hàng đầu như Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Lúa Đồng bằng sông Cầu Long và Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tập trung đẩy mạnh hai hướng giải quyết chủ đạo: một là tuyển chọn và phục tráng các giống có nguồn gốc quý hiếm để tạo ra các giống lúa chất lượng cao, thuộc dòng indica hay Japonica và mang thương hiệu quốc gia; hai là nhập nội và nghiên cứu chọn lọc một số giống chất lượng cao thuộc loài Japonica để phát triển khu vực núi phía Bắc, nơi có khí hậu nhiệt đới đặc trưng ở độ cao, nhằm tạo ra các biện pháp đột phá về năng suất và hiệu quả kinh tế, đồng thời tăng diện tích trồng lúa để đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu (Viện Di truyền Nông nghiệp, 2009). Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo đến năm 2025 và 2030 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đặt mục tiêu đến năm 2025 xuất khẩu gạo thâm và đặc sản, đồng thời gạo Japonica chiếm 40% tổng sản lượng xuất khẩu. Để đạt được mục tiêu này, các giải pháp được đề xuất nhấn mạnh vào việc chọn tạo được những giống có năng suất và chất lượng cao, khả năng chống chịu sâu bệnh, và một hệ thống phối hợp giữa vùng miền để tối ưu hóa việc sản xuất lúa Japonica ở các tỉnh miền Bắc nói riêng và vùng đồng bằng nói chung (Bộ NN&PTNT, 2021). Các nhà khoa học cho rằng, để đáp ứng yêu cầu thị trường và nâng cao giá trị cạnh tranh, công tác chọn tạo giống lúa Japonica cần giữ được thời gian sinh trưởng hợp lý, đồng thời đảm bảo năng suất và chất lượng, giảm mức nhiễm sâu bệnh. Điều này được nhận định là yếu tố quyết định cho sự bền vững của ngành lúa gạo Việt Nam trong những năm tới (Hoàng Tuyết Minh, 2016). Trong thời gian gần đây, nhóm nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tích cực thu thập nguồn vật liệu, tiến hành biến đổi di truyền và chọn lọc được một số dòng lúa Japonica có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, năng suất cao, nhiễm nhẹ sâu bệnh và chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác ở các tỉnh phía Bắc. Nghiên cứu này tiếp tục đánh giá các đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất, chất lượng gạo và khảo nghiệm sinh thái đối với một số dòng lúa Japonica đã chọn tạo tại các tỉnh phía Bắc, từ đó đánh giá tiềm năng ứng dụng và triển khai trên diện rộng.

Trong bối cảnh sâu hại và dịch hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến vụ mùa, bọ hà (Cylas formicarius, Fabricius; Coleoptera: Brentidae) được xem là một trong những đối tượng gây hại chính cho cây khoai lang trên toàn cầu. Tình hình hiện nay cho thấy công tác phòng trừ bọ hà gặp nhiều khó khăn do việc sử dụng thuốc trừ sâu không còn mang lại hiệu quả mong muốn và bền vững. Bẫy pheromone giới tính đã được áp dụng như một công cụ dự báo, quản lý và dẫn dụ bọ hà trưởng thành trên đồng ruộng. Nghiên cứu này tập trung đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả dẫn dụ và thu bắt của bẫy pheromone đối với trưởng thành bọ hà, bao gồm: liều lượng pheromone trong mồi, chiều cao treo bẫy, khoảng cách giữa các bẫy, kiểu dáng và vật liệu chế tạo bẫy, cũng như thời điểm đặt bẫy. Kết quả cho thấy liều pheromone từ 1,0 mg trở lên cho hiệu quả dẫn dụ cao đối với bọ hà đực trưởng thành trên đồng ruộng. Mặt khác, số lượng trưởng thành đực thu được cao nhất khi các bẫy được đặt cách nhau 30–40 m và ở độ cao 0,5–0,8 m tính từ mặt đất. Các kiểu bẫy như bẫy xô và bẫy làm từ chai nhựa 2 lít cho thấy hiệu quả thu bắt cao hơn so với các loại bẫy chai nhựa 1,5 lít và bẫy tam giác. Thời điểm đặt pheromone tối ưu trên đồng ruộng được xác định khoảng 21 ngày sau khi trồng. Việc áp dụng bẫy pheromone đã giúp giảm tỷ lệ củ khoai bị bọ hà gây hại trên ruộng khoảng 84,7% so với ruộng không áp dụng, cho thấy đây là một biện pháp quản lý sâu hại có hiệu quả và an toàn cho môi trường, góp phần bảo vệ năng suất và chất lượng khoai lang.

Tóm lại, quá trình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ trồng trọt và quản lý sâu bệnh ở Việt Nam đang tiến triển mạnh mẽ với mục tiêu chiến lược ghép nối giữa nghiên cứu cơ bản và thực tiễn sản xuất. Việc nhập khẩu và thích nghi các giống lúa Japonica từ Nhật Bản và Hàn Quốc, cùng với nỗ lực phục tráng và chọn lọc các giống nội địa có nguồn gốc quý hiếm, đóng vai trò cốt lõi trong kế hoạch phát triển lúa gạo đến năm 2025–2030. Các cơ quan nghiên cứu và trường đại học đã phối hợp để xác định thời gian sinh trưởng phù hợp, tăng năng suất và chất lượng, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ sinh học và di truyền nhằm tạo ra các dòng lúa có khả năng chống chịu sâu bệnh và phù hợp với điều kiện khí hậu tại miền Bắc và khu vực núi cao của phía Bắc Việt Nam. Bên cạnh đó, việc quản lý sâu bệnh bằng các phương pháp sinh học và công cụ pheromone trap cho thấy tiềm năng lớn trong việc giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu và bảo vệ môi trường nông thôn. Kết quả này mở ra cơ hội phát triển bền vững ngành lúa gạo và khoai lang của Việt Nam, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và cơ hội xuất khẩu trên thị trường quốc tế, đồng thời góp phần nâng cao đời sống nông dân và vị thế cạnh tranh của ngành nông nghiệp nước ta trong khu vực Đông Nam Á và trên toàn cầu.

ntdinh
Theo Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2026, 24(2): 154-163
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Nghiên cứu mới  
 
Ứng dụng chỉ thị phân tử để phân biệt ba loài cây thuốc dễ nhầm lẫn thuộc chi Ba bét (Mallotus Lour.)
Nghiên cứu do các tác giả Nguyễn Diệp Anh, Nguyễn Thị Thu, Trương Khánh Huyền, Kiều Bảo My, Trần Thị Thùy Anh, Lã Thị Thùy, Nguyễn Anh Đức, Tô Thanh Thúy, Trần Đức Long và Nguyễn Thị Kim Thanh - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện nhằm Ứng dụng chỉ thị phân tử để phân biệt ba loài cây thuốc dễ nhầm lẫn thuộc chi Ba bét (Mallotus Lour.)


 
Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này