Ảnh minh họa: Internet
Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu làm đẹp của con người cũng ngày càng tăng cao. Một trong những sản vật đáp ứng nhu cầu làm đẹp đó là ngọc trai. Nếu như trước kia, người ta chỉ biết ngọc tròn từ các loài trai như trai môi vàng, trai môi đen, trai mã thị... thì trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển khoa học công nghệ nuôi trai cấy ngọc, người ta đã tạo ra những viên ngọc bán cầu hay Mabe từ trai ngọc nữ (Pteria penguin Roding, 1798). Một ưu điểm lớn của kỹ thuật cấy ngọc từ loài trai này là trong một cơ thể trai, có thể cấy vào 3- 5 viên nhân bán cầu và thời gian nuôi ngắn, chỉ 8- 10 tháng (so với 18- 30 tháng cấy ngọc tròn).
Nghề nuôi trai cấy ngọc Mabe từ trai ngọc nữ đã được nghiên cứu và thương mại hóa tại nhiều quốc gia Thái Bình Dương như Úc, Tông Ga, Fiji... và đã góp phần thúc đẩy du lịch phát triển tại những quốc gia này. Từ năm 2017, với nguồn kinh phí từ Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế Úc (ACIAR), Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, đã hợp tác với trường Đại học Sunshine Coast thực hiện một dự án về phát triển nuôi cấy ngọc Mabe từ trai ngọc nữ. Kết quả đã tạo ra những viên ngọc Mabe rất đẹp và giá trị cao. Đây là tiền đề để mở rộng nghề nuôi cấy ngọc Mabe từ trai ngọc nữ ra nhiều nơi trên cả nước. Tuy nhiên, vấn đề gặp phải là nguồn trai nguyên liệu rất hạn chế do chỉ phụ thuộc vào tự nhiên.
Tháng 6 năm 2006, cán bộ nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1 đã thử nghiệm thành công sản xuất giống loài trai ngọc nữ tại Trại sản xuất giống Cát Bà- Hải Phòng. Thử nghiệm được thực hiện bằng phương pháp nuôi vỗ đàn bố mẹ với các loài tảo đơn bào, đạt tỷ lệ thành thục tới 90- 95%. Trai bố mẹ được kích thích sinh sản bằng phương pháp sốc nhiệt hoặc đẻ tự nhiên trên bể với tỷ lệ tham gia đẻ khá cao, tỷ lệ nở đạt 80- 82%. Tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi ấu trùng đạt 54- 60%. Số lượng con giống năm 2006 thu được là 308.000 con, cỡ 1,0- 1,5 cm. Tuy nhiên, từ đó đến nay, chưa thấy có nghiên cứu nào được thực hiện ở Việt Nam trên đối tượng này.
Phần lớn các nghiên cứu trước đây về trai ngọc chủ yếu chú trọng đến các loài Pinctada (như Pinctada maxima, Pinctada martensii), trong khi nghiên cứu về Pteria penguin còn rất hạn chế, đặc biệt tại Việt Nam. Do đó, việc đánh giá tác động của yếu tố vật bám kết hợp với chế độ dinh dưỡng nhằm mục đích xác định được loại vật bám tốt nhất và thức ăn tốt nhất cho ấu trùng trai ngọc nữ (Pteria penguin Roding, 1798) rất quan trọng trong việc hoàn thiện qui trình ương nuôi ấu trùng. Bài báo “Ảnh hưởng của vật bám và thức ăn lên tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng trai ngọc nữ (Pteria penguin roding, 1798) giai đoạn sống đáy” nghiên cứu những yếu tố chính ảnh hưởng đến sản xuất giống nhân tạo phục vụ cho nghề nuôi trai cấy ngọc, phục hồi và bảo vệ nguồn lợi tự nhiên. Kết quả nghiên cứu tạo cơ sở khoa học để chủ động cải thiện tỷ lệ sống, đây vốn là “nút thắt” lớn trong sản xuất giống trai ngọc nữ, từ đó nâng cao khả năng thương mại hóa và phát triển nghề nuôi cấy ngọc trai đa loài.
Qua nghiên cứu cho thấy rằng, ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống giai đoạn đáy của ấu trùng trai ngọc nữ: sau 20 ngày thí nghiệm với 4 nghiệm thức thức ăn thì nghiệm thức thức ăn hỗn hợp tảo Nannochloropsis oculata, Isochrysis galbana và Chaetoceros sp. cho ấu trùng có kích thước chiều dài lớn nhất (1210.3 μm), tỷ lệ bám và tỷ lệ sống cao nhất (lần lượt là 48,7% và 28,7%). Nghiệm thức hỗn hợp 2 loài tảo Nannochloropsis oculata và Isochrysis galbana cho ấu trùng có kích thước chiều dài nhỏ nhất (965.7 μm), tỉ lệ bám và tỷ lệ sống thấp nhất (lần lượt 39,7% và 20%). Ương nuôi ấu trùng với sự kết hợp của 3 loại thức ăn Nannochloropsis oculata+ Isochrysis galbana + Chaetoceros sp. tốt hơn so với sự kết hợp của 2 loại thức ăn; ảnh hưởng của vật bám lên tăng trưởng và tỷ lệ sống giai đoạn đáy của ấu trùng trai ngọc nữ: sau 20 ngày thí nghiệm với 4 nghiệm thức vật bám thì nghiệm thức vật bám lưới lan cho ấu trùng có kích thước chiều dài lớn nhất (1128.4 μm), tỉ lệ bám cao nhất (48,6%) và tỷ lệ sống cao nhất (28,6%). Vật bám tôn nhựa cho ấu trùng có kích thước chiều dài thấp nhất (970 μm), tỉ lệ bám thấp nhất (40,5%) và tỉ lệ sống thấp nhất (20,6%). Ương nuôi ấu trùng với vật bám lưới lan tốt hơn so với những loại vật bám còn lại. |