Nghiên cứu [ Đăng ngày (31/01/2026) ]
Ảnh hưởng của thức ăn ban đầu và hàm lượng DHA protein selco làm giàu luân trùng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá bè vẫu (Caranx ignobilis, Forsskål, 1775)
Nghiên cứu do nhóm tác giả Phạm Thị Anh, Ngô Văn Mạnh, Phạm Đức Hùng - Trường Đại học Nha Trang thực hiện nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số loại thức ăn ban đầu, hàm lượng DHA bổ sung khác nhau cho luân trùng (Brachionus plicatilis) đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá bè vẫu (Caranx ignobilis, Forsskål, 1775).

Ảnh minh họa: Internet

Cá bè vẫu hay còn được gọi là cá bè quỵt, là một trong số các đối tượng nuôi biển đầy triển vọng vì tốc độ tăng trưởng nhanh, dễ thích nghi với điều kiện môi trường sống, thịt ngon và giá trị kinh tế cao. Đối với các bè vẫu trưởng thành, chiều dài và khối lượng của cá có thể đạt tới 170 cm/cá thể và 80 kg/cá thể (Fishbase, 2018), loài cá này cũng được coi là loài cá dành cho môn câu cá thể thao và giải trí. Hiện nay cá bè vẫu đã được cho sinh sản nhân tạo trong các trại sản xuất giống, tuy nhiên kết quả đạt được vẫn còn thấp, nguyên nhân là tỷ lệ sống của cá ở giai đoạn ấu trùng còn thấp (<5%), tỷ lệ chết nhiều ở giai đoạn bắt đầu ăn thức ăn ngoài và giai đoạn 18 đến 22 ngày tuổi, ấu trùng dễ bị sốc khi có các tác động của một số biện pháp kĩ thuật (Phạm Đức Hùng, 2023; Ngô Văn Mạnh, 2024). Một số kết quả nghiên cứu trên các loài cá biển khác như cá chim, cá chẽm và cá giò không thể áp dụng trực tiếp cho cá bè vẫu, gây khó khăn trong việc cung cấp  giống  và  nuôi  thương  phẩm  cá  bè  vẫu. Luân trùng, Artemia, trứng hàu, Copepoda là những nguồn thức ăn sống được sử dụng phổ biến trong các trại giống cá biển do chúng có hàm lượng dinh dưỡng cao, kích thước nhỏ phù hợp với kích cỡ miệng của ấu trùng cá biển , ngoài ra chúng có khả năng gia tăng sinh khối trong thời gian ngắn, đáp ứng được nhu cầu của các trang trại sản xuất giống các đối tượng nuôi biển. Theo Trương Quốc Thái (2020), ấu trùng cá mú lai cho ăn luân trùng có tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cao hơn so với ấu trùng cho ăn thức ăn là ấu trùng hàu hoặc ấu trùng hàu kết hợp với luân trùng. Việc sử dụng trứng hàu thụ tinh đã được sử dụng làm thức ăn sống cho ấu trùng một số loài cá biển có cỡ miệng nhỏ ở giai đoạn bắt đầu ăn ngoài như cá mú, cá hồng Bạc, cá Dìa. Tuy nhiên trứng hàu có thể làm ảnh hưởng đến môi trường nước, ấu trùng hàu cũng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết cho ấu trùng, làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu  đều  chỉ  ra  rằng  thức  ăn  sống  như  luân trùng  (nuôi  bằng  men  bánh  mì)  và Artemia nauplii đều thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết, đặc biệt là các acid béo không no đa nối đôi  như  DHA  (Docosahexaenoic  acid),  EPA (Eicosapentaenoic acid), đây là những chất cần thiết cho sự hình thành cấu trúc và chức năng của màng tế bào và sự phát triển của hệ thần kinh, thị giác.

Cá  biển  nhìn  chung  kém  hoặc  không  có khả năng tự tổng hợp lên các acid béo HUFA (Highly Unsaturated Fatty Acids) từ các acid béo  mạch  ngắn  hơn. Thiếu  các  HUFA  trong thức ăn cũng gây ra các bất thường về xương và giảm khả năng chống chịu stress ở ấu trùng cá (Roo et al, 2019, Rimmer, 2008; Thepot et al,  2016,  Ngô  Văn  Mạnh,  2015;  Phạm  Đức Hùng và ctv, 2023). Ở Na Uy, hầu hết việc sản xuất ấu trùng cá biển dựa trên hệ thống nuôi thâm  canh,  sử  dụng  luân  trùng  (Brachionus sp.) làm thức ăn cho ấu trùng cá biển ở giai đoạn đầu khi bắt đầu ăn ngoại sinh, khi các trang trại này sử dụng thức ăn sống tự nhiên là động vật phù du cho ấu trùng cá tuyết thì thấy rằng ấu trùng có tốc độ tăng trưởng hằng ngày cao gấp đôi so với ấu trùng được nuôi bằng luân trùng (Busch et al, 2009, 2010). Để khắc phục sự thiếu hụt dinh dưỡng ở thức ăn sống, luân trùng hay artemia cần phải được làm giàu để bổ sung đủ các acid béo cần thiết HUFA. Nghiên cứu trên cá chim vây vàng giai đoạn giống cho thấy chiều dài của ấu trùng đạt cao nhất khi cho ăn thức ăn sống được làm giàu với 200 mg/L DHA, trong khi tỷ lệ sống cao nhất ở nghiệm thức làm giàu nồng độ 250 mg/L DHA (Ngô Văn Mạnh, 2015). Ngoài ra, luân trùng được làm giàu ở nồng độ 150 mg/L DHA giúp cải thiện tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống ở cá mú lai, nhưng tăng mức làm giàu lên 200 mg/L không giúp tăng sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng so với mức làm giàu 150 mg/L (Trương Quốc Thái, 2020), mức 150 mg/L cũng là mức bổ sung tối ưu cho ấu trùng cá khoang cổ cam Amphiprion percula (Nguyễn Thị Thúy và ctv, 2022). Trong thực tế, các trại giống sản xuất cá biển thường làm giàu luân trùng và artemia với nồng độ thấp hơn nhiều (< 50 mg/L), điều này có thể dẫn đến sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng thiết yếu trong thức ăn cho ấu trùng. Mỗi loài cá biển có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau,  cũng  như  nhu  cầu  các  n-3HUFA  khác nhau, do đó cần nghiên cứu mức làm giàu thức ăn sống thích hợp ở mỗi loài cá khác nhau. Khi nuôi luân trùng bằng men bánh mì, luân trùng có hàm lượng các axít béo 18:1, 16:1, 18:2 và 20:2 tương đối cao, nhưng có hàm lượng các axít béo C20 và C22 rất thấp (Roo et al, 2019). Để bổ sung n-3 HUFA cho ấu trùng cá biển, luân trùng thường được làm giàu bằng các chất giàu n-3 HUFA như nhũ tương làm từ dầu cá, thức ăn tổng hợp giàu HUFA có sẵn trên thị trường, hoặc từ các loài vi tảo giàu HUFA (Lục Minh  Diệp,  2010;  Nguyễn  Thị  Thúy  và  ctv, 2022; Ngô Văn Mạnh, 2015). Nghiên cứu này được thực hiện nhằm (1) xác định loại thức ăn ban đầu phù hợp và (2) đánh giá ảnh hưởng của các nồng độ DHA Protein Selco làm giàu luân trùng khác nhau đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá bè vẫu.
Luân trùng Brachionus  plicatils  là thức ăn phù hợp cho ấu trùng cá bè vẫu giai đoạn bắt đầu ăn ngoài. Tỷ lệ sống của ấu trùng cá bè vẫu khi cho ăn luân trùng 17,82%Việc làm giàu luân trùng với DHA đã cải thiện đáng kể kết quả ương ấu trùng cá bè vẫu. Cá  cho  ăn  bằng  luân  trùng  làm  giàu  ở  mức 375 mg/L có tốc độ tăng trưởng theo chiều dài và khối lượng cao nhất  khi so sánh với các nghiệm thức làm giàu khác, tuy nhiên ở mức làm giàu này lại có tỷ lệ sống thấp, tương đương với nghiệm thức không bổ sung chất làm giàu DHA (< 6%), ở nồng độ 300mg/L ấu trùng có tỷ lệ sống cao nhất (24,38%), sinh khối tối ưu của ấu trùng ở nghiệm thức bổ sung 225mg/L (không khác biệt với sinh khối ở nghiệm thức 150mg/L và 300mg/L).Các nghiên cứu tiếp theo nên đánh giá sâu hơn ảnh hưởng của hàm lượng DHA làm giàu thức ăn sống lên các chỉ tiêu miễn dịch, sinh hóa, enzyme, khả năng chịu sốc và tỷ lệ dị hình của ấu trùng.

nnttien
Theo Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, Trường ĐH Nha Trang, Số 3/2025
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Nghiên cứu mới  
 
Lúa ST25 thích nghi hiệu quả trên đồng đất Tây Nguyên
Lúa ST25 nổi tiếng với vùng lúa - tôm ở Bán đảo Cà Mau, nay lên Tây Nguyên chứng minh khả năng thích nghi, hiệu quả khi trở thành gạo sạch hữu cơ. Một nhà đầu tư nông nghiệp từ Hậu Giang cũ (nay là TP Cần Thơ) lên Đắk Lắk khẳng định sau trải nghiệm qua 4 vụ lúa.


 
Sáng kiến mới  
 
 

CASTI TiVi




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->