Ảnh minh họa: Internet
Tôm là một trong những loài thủy sản được nuôi phổ biến ở Việt Nam với hai loài chính là tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei). Năm 2024, sản lượng tôm của Việt Nam đạt 1,264 triệu tấn, trong đó tôm sú đạt 284 nghìn tấn và tôm thẻ chân trắng đạt 980 nghìn tấn, đem về kim ngạch xuất khẩu gần 4 tỷ USD (Nguyễn Anh, 2025). Ngành công nghiệp chế biến tôm tạo ra lượng phụ phẩm chiếm khoảng 35-40% khối lượng nguyên liệu đầu vào, bao gồm vỏ, đầu và thịt vụn; trong đó đầu tôm chiếm hơn 70% khối lượng phụ phẩm (Trung và Phuong 2012). Phụ phẩm từ chế biến tôm chứa nhiều thành phần có giá trị dinh dưỡng và dược học như protein, carotenoids, chitin, lipid và khoáng chất; đây là nguồn nguyên liệu dồi dào để chế biến thành các sản phẩm sử dụng trong thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, thức ăn chăn nuôi và nông nghiệp (Hsu và cộng sự, 2000).
Protein thủy phân từ động vật thủy sản đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như chế biến thực phẩm và thực phẩm bảo vệ sức khỏe, mỹ phẩm, thức ăn chăn nuôi, do chúng chứa nhiều các peptide mạch nhỏ với 2-20 amino acid, nên thích hợp cho sự tiêu hóa trong ruột của động vật (Neklyudov và cộng sự, 2000). Ngoài cung cấp dinh dưỡng, việc bổ sung protein thủy phân trong chế biến thực phẩm còn giúp làm tăng khả năng nhũ hóa và tăng khả năng giữ nước của sản phẩm (Ibarra và cộng sự, 2013). Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong protein thủy phân có chứa hàm lượng đáng kể các chất chống oxy hóa (Dekkers và cộng sự, 2011; You và cộng sự, 2011). Các peptide được tạo ra trong quá trình thủy phân có khả năng gắn với các ion kim loại, khử các gốc tự do từ đó ngăn cản/làm chậm quá trình oxy hóa lipid (You và cộng sự, 2011). Nghiên cứu của Dekkers và cộng sự (2011) cho thấy sự hình thành các chất hydroperoxide và các hợp chất hoạt hóa của acid thiobarbituric (TBARS) trong cơ thịt đỏ cá mahi mahi giảm đáng kể khi được ngâm trong dịch protein thủy phân từ cá rô phi. Trong nuôi trồng thủy sản, protein thủy phân từ động vật thủy sản cũng được bổ sung vào thức ăn nhằm thay thế một phần bột cá. Việc bổ sung protein thủy phân từ động vật thủy sản vào thức ăn giúp kích thích tăng trưởng, kích thích tiêu hóa và tăng khả năng miễn dịch cho cá bớp (Costa-Bomfim và cộng sự, 2017), cá lóc (Fang và cộng sự, 2019) và cá tráp đỏ (Khosravi và cộng sự, 2015). Nghiên cứu này được tiến hành nhằm thu nhận protein thủy phân từ đầu tôm thẻ chân trắng để bổ sung vào thức ăn trong ương cá bè vẫu (Caranx ignobilis Forsskål, 1775).
Nhiều phương pháp đã được ứng dụng để thu nhận protein thủy phân từ phụ phẩm chế biến thủy sản như phương pháp hóa học (sử dụng acid hoặc kiềm), phương pháp hóa lý (sử dụng nhiệt) và phương pháp sinh học (sử dụng enzyme). Trong đó, phương pháp thủy phân protein sử dụng enzyme được chứng minh là phương pháp thân thiện với môi trường, sản phẩm protein thủy phân thu được có chất lượng cao, có thể khống chế quá trình thủy phân để thu được các mạch peptides có phân tử lượng tùy theo mục đích sử dụng. Nhiều loại enzyme thương mại đã được nghiên cứu ứng dụng vào thủy phân phụ phẩm chế biến thủy sản như alcalase, flavouzyme, papain, neutrase, protamex,... (Nguyễn Văn Mười và Hà Thị Thụy Vy, 2018; Denis và cộng sự, 2023, Trương Thị Mộng Thu và cộng sự, 2022; Randriamahatody và cộng sự, 2011; Gunasekaran và cộng sự, 2015). Các enzyme có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp các cặp với nhau nhằm tăng hiệu quả thủy phân. Alcalase được xem là một enzyme có hiệu quả thủy phân cao và được ứng dụng rộng rãi trong thủy phân các phụ phẩm chế biến thủy sản (Nguyễn Văn Mười và Hà Thị Thụy Vy, 2018; Denis và cộng sự, 2023, Trương Thị Mộng Thu và cộng sự, 2022). Hiệu quả thủy phân protein của enzyme phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nồng độ cơ chất, nhiệt độ, nồng độ enzyme, thời gian thủy phân, pH môi trường và tính chất của nguôn liệu (Randriamahatody và cộng sự, 2011; Gunasekaran và cộng sự, 2015; Nguyễn Văn Mười và Hà Thị Thụy Vy, 2018; Denis và cộng sự, 2023). Việc nghiên cứu tìm ra điều kiện thủy phân phù hợp đối với từng loại nguyên liệu là cần thiết nhằm tối đa hiệu quả thủy phân để thu nhận protein có các tính chất đáp ứng từng mục tiêu ứng dụng cụ thể. Do vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là sử dụng phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) để xác định điều kiện thủy phân tối ưu cho enzyme alcalase (nồng độ enzyme, nhiệt độ, thời gian thủy phân) nhằm thu nhận protein thủy phân từ đầu tôm thẻ chân trắng. Các hàm mục tiêu sử dụng trong nghiên cứu là độ thủy phân (DH) và hàm lượng protein hòa tan (SP).
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố nồng độ enzyme, nhiệt độ và thời gian thủy phân có ảnh hưởng lớn đến độ thủy phân và hàm lượng protein hòa tan trong dịch thủy phân thu nhận từ đầu tôm thẻ chân trắng. Các phương trình hồi quy thu được hoàn toàn phù hợp và mô tả đúng các giá trị thực nghiệm. Điều kiện thủy phân tối ưu khi thủy phân đầu tôm thẻ chân trắng bằng enzyme alcalase là nồng độ enyzme 0,77% (w/w), nhiệt độ 54,4 °C và thời gian thủy phân 7,1 giờ. Dịch protein thủy phân từ đầu tôm thẻ chân trắng ở điều kiện tối ưu có độ thủy phân và hàm lượng protein hòa tan lần lượt là 40,98% và 50,67 mg/mL. |