Thông tin [ Đăng ngày (16/03/2024) ]
Hệ thống quan trắc khí thải tự động
Hệ thống sử dụng nguồn sáng băng thông rộng và phép đo trên dải bước sóng lớn, nên có thể tùy biến nhiều khoảng giá trị khác nhau, tạo dòng khí chuẩn và loại bỏ phần lớn các chất khí nền, giảm tối đa sai số ngẫu nhiên.

Các kỹ sư đang lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải tự động. Ảnh: Minh Thành Group

Thời gian gần đây, bầu trời Hà Nội thường xuyên có tình trạng bị bao phủ trong một bức màn mù đặc. Nhìn qua ảnh, nhiều người lầm tưởng đó là lớp sương mù hay mưa phùn, song rất nhanh sau đó, họ nhận ra đó là chỉ dấu cho thấy tình trạng ô nhiễm trầm trọng của thủ đô. Chỉ số chất lượng không khí (AQI) ở Hà Nội lúc bấy giờ là 239, mức rất không tốt, với chất gây ô nhiễm chính là bụi mịn PM2.5.

Tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội hay các tỉnh thành khác như TP.HCM, Bắc Ninh, Thanh Hóa không chỉ bắt nguồn từ khói thải ô tô, xe máy, đốt rác thải, rơm rạ sai quy định; mà còn từ khí thải công nghiệp trong nhiều lĩnh vực như may mặc, đồ nhựa, chế biến thép… Khí thải công nghiệp được hiểu là các chất thải công nghiệp tồn tại dưới dạng khí hay dạng bụi đi vào môi trường từ các nhà máy, nhà xưởng, các khu công nghiệp. Đây đều là tập hợp các loại chất khí độc hại như: SOx,CO2, CO, NOx…

Làm thế nào để cơ quan quản lý nhà nước có thể đánh giá được tình hình môi trường tại các vùng công nghiệp này? “Việc theo dõi thông qua hệ thống quan trắc có thể hỗ trợ cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hoặc nguy cơ ô nhiễm, đánh giá được diễn biến môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu cung cấp và trao đổi thông tin về chất lượng không khí”, ông Hoàng Trung Minh, đại diện Công ty TNHH Minh Thành Group cho biết tại hội thảo “Giải pháp quan trắc tự động chất lượng không khí và khí thải trong sản xuất công nghiệp” do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tổ chức.

Không chỉ hỗ trợ cơ quan quản lý, việc lắp đặt hệ thống quan trắc khí thải tự động cũng giúp chủ nguồn thải theo dõi các diễn biến của chất lượng khí, ví dụ như cảnh báo hệ thống khi giá trị đo vượt quá 70%, 90% và 100% giá trị cho phép. Từ đó, họ có thể xây dựng các phương án xử lý với từng trường hợp cụ thể, giám sát được chất lượng khí thải tại các địa điểm lắp đặt, kịp thời phát hiện và xử lý khi nguồn thải có nguy cơ gây biến đổi môi trường sống xung quanh, đảm bảo hoạt động xả thải luôn ổn định và nằm trong giới hạn cho phép.

Theo ông Trung, các công nghệ quan trắc khí thải hiện nay sử dụng hai cách thức đo là in-situ - đo trực tiếp với thiết bị phân tích và trả kết quả tại vị trí đo, và extract - đo gián tiếp thông qua việc hút mẫu cần đo về thiết bị phân tích đặt ở vị trí khác.

Trong đó, có thể kể đến những kỹ thuật phổ biến giúp đo lường, ghi nhận lượng khí thải phát ra môi trường từ các nguồn khác nhau (nhà máy sản xuất, giao thông vận tải và các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản) như kỹ thuật theo dõi quang phổ, sử dụng phương pháp trích mẫu kiểu hot – wet (công nghệ UV-DOAS/TDLAS) phân tích trực tiếp nồng độ các chất khí (ẩm/ướt/nóng) như SO2, NOx… và không bị ảnh hưởng của bụi, độ ẩm; kỹ thuật quang phổ hấp thụ laser bán dẫn (TDLAS) đo trực tiếp khí thải, không cần hút trích mẫu, chịu được điều kiện nhiệt độ và áp suất cao, không bị nhiễu bởi bụi và các khí nền.

Đáng chú ý, nhiều đơn vị đã sử dụng hệ thống giám sát chất lượng không khí tự động - Module Compact AQMS (air quality monitoring system) để xây dựng mạng lưới đánh giá chất lượng không khí toàn diện và tối ưu chi phí. Module Compact AQMS được thiết kế đơn giản, có thể đo đạc tại các điểm đặt bị hạn chế diện tích như đường phố, đường hầm, các khu vực trong nhà, bãi đỗ xe hoặc lắp trên xe chuyên dụng để đo nguồn di động.

Phù hợp với nhiều loại hình sản xuất

Khi doanh nghiệp tìm đến các nhà sản xuất thiết bị quan trắc ở Mỹ, Trung Quốc, châu Âu…, họ nhận ra rằng không phải thiết bị nào cũng tối ưu hóa để đo đạc đầy đủ chỉ số cho môi trường Việt Nam hay truyền dữ liệu theo đúng định dạng chuẩn về Sở Tài nguyên Môi trường địa phương.

Ứng dụng những kỹ thuật đã có, các kỹ sư thuộc Minh Thành Group đã tinh chỉnh để tạo ra hệ thống quan trắc tự động, liên tục chất lượng không khí và khí thải trong sản xuất công nghiệp. Hệ thống gồm nhiều thành phần chính, thứ nhất là thiết bị đo các chỉ tiêu (sensor) - đây là thiết bị quan trắc khí thải trực tuyến chuyên dụng dùng để đo lưu lượng, hơi nước, nhiệt độ, áp suất, CO, CH4, NO, NO2, SO2… trong khí thải. Thứ hai là thiết bị lưu trữ, truyền nhận dữ liệu (Datalogger) có chức năng lưu trữ và hiển thị dữ liệu tại trạm quan trắc môi trường không khí, đồng thời truyền dữ liệu theo đúng định dạng chuẩn về Sở Tài nguyên Môi trường địa phương.

Trong thiết bị cũng có hệ thống lấy mẫu tự động nhằm giúp cơ quan quản lý có thể lấy mẫu tự động hoặc lấy mẫu thủ công từ xa thông qua các thiết bị có kết nối Internet. Hệ thống có thể liên tục lấy mẫu và kịp thời cảnh báo khi có bất kỳ thông số nào vượt ngưỡng. Bên cạnh đó, nhóm kỹ sư cũng lắp đặt các thiết bị phụ trợ khác như hệ thống làm sạch bằng khí nén, tủ hệ thống chứa các module hiển thị và cấp nguồn cho hệ thống, camera giám sát nguồn khí thải...

Một trong những điểm mạnh nhất của hệ thống quan trắc tự động, liên tục chất lượng không khí và khí thải trong sản xuất công nghiệp này đó là nó ứng dụng công nghệ UV-DOAS sử dụng nguồn sáng băng thông rộng và phép đo trên dải bước sóng lớn, nên có thể tùy biến nhiều khoảng giá trị khác nhau, tạo dòng khí chuẩn và loại bỏ phần lớn các chất khí nền, giảm tối đa sai số ngẫu nhiên.

Hệ thống hoạt động liên tục 24/24 trong điều kiện môi trường khắc nghiệt, nhập số liệu tự động và phân tích dữ liệu 15 phút một lần. Không phải loại hình nhà máy nào cũng có những chỉ tiêu cần giám sát giống nhau. Với từng loại hình sản xuất, hệ thống có thể đo đạc, lưu trữ tất cả chỉ tiêu quan trắc tự động, hiển thị giá trị của các cảm biến và bộ phân tích lên giao diện theo dõi tại phòng điều khiển theo thời gian thực, có hiển thị mức giá trị tương ứng, trích xuất dữ liệu theo thời gian hoạt động tương ứng.

Cách đây ba tháng, sau khi đã hoàn thiện thiết bị, các kỹ sư đã lắp đặt thử nghiệm thiết bị tại trường Đại học Tài nguyên Môi trường TP. Hồ Chí Minh. “Trong đợt lắp đặt này, vào buổi chiều trời đã đổ cơn mưa, vì vậy đây cũng là dịp để chúng tôi kiểm tra khả năng của thiết bị trong điều kiện mưa thực tế”, ông Hoàng Trung Minh kể. Theo ông, thiết bị đã hoạt động hiệu quả và “chỉ cần lắp đặt khoảng 2 tiếng trong buổi sáng là có thể đưa vào sử dụng ngay lập tức.”

Hiện tại, công ty đã lắp đặt thành công một số dự án quan trắc tự động, liên tục chất lượng không khí và khí thải cho nhiều doanh nghiệp như Công ty TNHH Gang thép Tuyên Quang, Công ty TNHH Vinacell Technology, Công ty TNHH MTV Vinapaper, Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền v.v.

“Có thể việc lắp đặt các trạm quan trắc không tạo ra lợi nhuận nào đáng kể cho doanh nghiệp, nhưng chúng ta vẫn cần phải lắp vì không thể cứ đánh đổi môi trường để lấy kinh tế mãi được”, ông Cao Xuân Bình, Phó Giám đốc Kỹ thuật của công ty, kết luận.

Hà Thi
Theo https://khoahocphattrien.vn (tnxmai)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Xem nhiều

Tiêu điểm

Chuyển đổi số tại Cần Thơ: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp
Nỗ lực hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, đảm bảo kết nối thông suốt
Tập trung cao độ cho phát triển kinh tế - xã hội thành phố
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại
Lãnh đạo UBND thành phố Cần Thơ làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ về tình hình hoạt động sau khi hợp nhất ba địa phương
Hội đồng tư vấn, giao trực tiếp tổ chức chủ trì nhiệm vụ KH&CN (Tư vấn và chứng nhận Tiêu chuẩn ISO 9001:2015 – Hệ thống quản lý chất lượng - Các yêu cầu và Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 – Hệ thống quản lý môi trường) thuộc Chương trình NSCL năm 2025
Microsoft cáo buộc nhóm tin tặc đứng sau mạng lưới Deepfake AI
Công nghệ lưu trữ lượng tử vừa đạt đột phá: Chứa 5.000 phim 4K trên một tinh thể bé hơn đầu ngón tay?
Sony tuyên bố hợp tác gây chấn động ngành game, mang tính năng độc quyền trên AMD RX 9000 đến PS5 Pro, vạch ra tương lai cho PS6
Startup xe điện Dat Bike đã không còn "trong tay” người Việt
Trung Quốc tự đẩy mình vào 'thời khắc sinh tử': 300 startup xe điện chỉ còn 7 hãng lớn có thể tồn tại, chiến trường xe điện khốc liệt hơn bất kỳ lúc nào
Chuyên gia Phạm Chi Lan chỉ ra 4 điểm yếu của các nhà sáng lập Việt: Nhiều startup cho rằng xuất khẩu được mới 'oai', trong khi thị trường nội còn khó hơn ngoại
Startup KAMEREO ‘ấm bụng’ trong ‘mùa đông gọi vốn’: Hoàn tất vòng Series B với 7,8 triệu USD từ 5 ‘đồng hương’ Nhật Bản
Founder - CEO Amslink: Kiến tạo tương lai Anh ngữ cho thế hệ trẻ Việt
CASTI Awards 2024 - Tôn vinh sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Siêu thị số  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 
Công nghệ 4.0  
 
Một tầm nhìn do cộng đồng đề xuất về nguồn tri thức mới cho trí tuệ nhân tạo
Nghiên cứu do nhóm các tác giả Vinay K Chaudhri, Chaitan Baru, Brandon Bennett, Mehul Bhatt, Darion Cassel, Anthony G Cohn, Rina Dechter, Esra Erdem, Dave Ferrucci, Ken Forbus, Gregory Gelfond, Michael Genesereth, Andrew S. Gordon, Benjamin Grosof, Gopal Gupta, Jim Hendler, Sharat Israni, Tyler R. Josephson, Patrick Kyllonen, Yuliya Lierler, Vladimir Lifschitz, Clifton McFate, Hande Küçük McGinty, Leora Morgenstern, Alessandro Oltramari, Praveen Paritosh, Dan Roth, Blake Shepard, Cogan Shimizu, Denny Vrandečić, Mark Whiting, Michael Witbrock thuộc Công ty TNHH Nghiên cứu Hệ thống Tri thức, Sunnyvale, Hoa Kỳ thực hiện.


 
Điện tử  
 
Simbe Tally đạt chứng nhận UL 3300 – Bước tiến lớn cho robot quét kệ trong bán lẻ
Simbe vừa công bố rằng robot quét kệ tự động Tally đã chính thức đạt chứng nhận UL 3300 từ UL Solutions sau khi trải qua quá trình kiểm định độc lập cả robot và trạm sạc. Đây là một cột mốc quan trọng, bởi UL 3300 đặt ra những yêu cầu khắt khe về cơ khí, điện và phần mềm cho các hệ thống robot hoạt động trong môi trường công cộng năng động.


 
Tin học  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này