Nghiên cứu được thực hiện tại xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn và xã An Nông, huyện Tịnh Biên. Tại mỗi huyện phỏng vấn ngẫu nhiên 60 nông hộ có hoạt động sản xuất lúa trong và ngoài đê bao. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng chi phí bình quân sản xuất một vụ lúa của mô hình lúa 3 vụ trong đê bao cao hơn có ý nghĩa thống kê so với mô hình lúa 2 vụ ngoài đê ở cả 2 điểm nghiên cứu Tri Tôn và Tịnh Biên, trong đó chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là cao nhất. Chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong vùng canh tác lúa 3 vụ (trong đê) cao gấp 1,48 lần tại Tri Tôn và 1,15 lần tại Tịnh Biên so với vùng canh tác lúa 2 vụ (ngoài đê). Tổng lợi nhuận bình quân 1 vụ lúa của mô hình canh tác lúa 2 vụ cao hơn mô hình canh tác lúa 3 vụ tại Tri Tôn là 3.410.822 đồng/ha/vụ, và Tịnh Biên là 2.867.819 đồng/ha/vụ.
Sản xuất lúa ba vụ được cho là cần thiết để tăng sản lượng lúa, góp phần đảm bảo an ninh lương thực đồng thời tăng lượng gạo xuất khẩu (Nguyễn Bảo Vệ, 2009; Nguyễn Hữu Chiếm và ctv., 1999). Hệ thống đê bao khép kín đóng vai trò quyết định cho mô hình sản xuất lúa vụ ba ở các tỉnh đầu nguồn của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong đó có tỉnh An Giang. Việc bao đê đã mang lại rất nhiều lợi ích cho người dân và chính quyền địa phương như kiểm soát lũ, hạn chế thiệt hại tài sản, ổn định cuộc sống người dân, và gia tăng sản xuất (Nguyễn Xuân Thịnh và ctv., 2016). Tuy nhiên, những tác động lâu dài của hệ thống đê bao khép kín là không nhỏ, nó có thể làm giảm nguồn dinh dưỡng do phù sa mang lại, việc canh tác liên tục có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của đất đồng thời tích tụ các độc chất cho môi trường (Lê Anh Tuấn, 2014). Thật vậy, năng suất lúa ở những vùng thâm canh lúa 3 vụ có chiều hướng suy giảm nhất là vùng có bao đê ngăn lũ. Để duy trì năng suất như những năm trước, nông dân phải sử dụng phân bón với lượng ngày càng nhiều hơn, do đó chi phí sản xuất tăng cao, trong khi lợi nhuận do trồng lúa ngày càng giảm đã làm cho đời sống nông dân vẫn còn không ít khó khăn (Dương Văn Nhã, 2006; Tran et al., 2014). Khi bao đê ngăn lũ để sản xuất lúa ba vụ liên tục nhiều năm đưa đến các tiến trình bất lợi vềmặt phì nhiêu đất (Le et al., 2007). Với tình hình canh tác thâm canh liên tục nhiều vụ trong năm, nếu không có những biện pháp quản lý đất hợp lý, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến tính bền vững của sản xuất nông nghiệp (Bell et al., 1995).
Tuy nhiên, hiện tại chưa có các nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ về hiện trạng canh tác, hiệu quả tài chính của việc canh tác lúa trong và ngoài đê bao đặc biệt là ở vùng đất phèn và đất xám bạc màu của tỉnh An Giang, nơi có nhiều đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Vì vậy, đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá hiện trạng canh tác và hiệu quả tài chính của việc canh tác lúa trong và ngoài đê bao trên đất phèn ở huyện Tri Tôn và trên đất phù sa cổ ở huyện Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang. Nghiên cứu này sẽ góp phần hỗ trợ chính quyền địa phương cho công tác định hướng quy hoạch về sản xuất nông nghiệp trong tương lai nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện đời sống cho người dân tại địa phương. |