Nông - Lâm - Ngư nghiệp
[ Đăng ngày (23/12/2012) ]
|
|
Ưu thế lai về quang hợp ở lá đòng của giống lúa lai Việt Lai 50 (Oryza sativa L.) trong thời kỳ chín
|
|
|
Thí nghiệm được tiến hành trong nhà lưới để đánh giá ưu thế lai về quang hợp của lá đòng và sự ảnh hưởng của việc cắt lá đòng trong thời kỳ chín đối với khối lượng bông của giống lai Việt Lai 50 so với dòng bố và dòng mẹ.
|
Năng suất hạt của cây lúa được xác định phần lớn bởi khả năng tích lũy sản phẩm quang hợp ở thời kỳ sau trổ và một phần vật chất khô được vận chuyển từ thân và lá. Việt Lai 50 là gống lúa lai hai dòng có tiềm năng suất rất cao (12-14 tấn/ha). Việt Lai 50 có kiểu xếp hạt chồng lên nhau do mật độ hạt trên bông lớn. Do vậy, nghiên cứu ưu thế lai về các đặc điểm của lá đòng lêin quan đến khả năng quang hợp ở thời kỳ sau trổ của giống lúa lai Việt Lai 50 sẽ cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà chọn giống và canh tác lúa lai.
Kết quả thí nghiệm cho thấy, Việt Lai 50 có ưu thế lai dương về các chỉ tiêu: cường độ quang hợp, giá trị SPAD (một chỉ tiêu có tương quan thuận với hàm lượng diệp lục) và chỉ số độ dày lá (SLA). Cường độ quang hợp của Việt Lai 50 có tương quan thuận với chỉ số SPAD và SLA nhưng không có tương quan với độ nhạy khí khổng và cường độ thóat hơi nước. Việt Lai 50 có diện tích lá đòng lớn hơn nhưng lại có góc lá đòng nhỏ hơn so vói các dòng bố, mẹ. Việc cắt lá đòng làm giảm khối lượng bông ở các dòng, giống lúa trong thời kỳ chín so với công thức không cắt lá đòng, tuy nhiên mức độ giảm khối lượng bông của các dòng, giống lúa trong thời kỳ chín so với công thức không cắt lá đòng, tuy nhiên mức độ giảm khối lượng bông ở con lai Việt Lai 50 nhiều hơn so với cá dòng bố, mẹ, đặc biệt vào cuối thời kỳ chín (khối lượng bông của Việt Lai 50 ở thời điểm sau cắt 3 tuần bằng 71%, trong khi khối lượng bông của dòng bố và dòng mẹ lần lượt bằng 82% và 84% so với đối chứng không cắt lá đòng). Như vậy, diện tích lá đòng lớn và cường độ quang hợp mạnh ở thời kỳ chín là ưu thế lai vượt trội của giống lúa lai Việt Lai 50. |
Thiên Trang
Theo Tạp chí NN&PTNT, Kỳ 1/2012 |