Mô lá mầm của 3 giống cà chua FM327C, M88 và DM166 được sử dụng là nguyên liệu nuôi cấy. Nhóm nghiên cứu đã dùng hạt cà chua được khử trùng bằng H2O2 nồng độ 20% trong 6 phút, ủ hạt trong điều kiện tối ở 26-30oC cho tới khi nảy mầm rễ, tiến hành gieo vào đĩa Petri, đặt đĩa hạt trong điều kiện tối khoảng 16 giờ và đưa ra điều kiện phòng nuôi có quang chu kỳ 16h chiếu sáng / 8 giờ tối khi hạt bắt đầu xuất hiện thân mầm.
Sau khi vật liệu được chuẩn bị, nhóm nghiên cứu đã thực hiện các thí nghiệm trên nền môi trường cơ bản MSB5+500 mg/l MES+30 g/l đường sacaroza. Kết quả thí nghiệm được xử lý theo phần mềm MSTAT-C.
Qua quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết luận sau:
- Cả 3 loại cytokimin, Zeatin: BAP và 2-iP đều có hiệu quả cho nuôi cấy mô lá mầm của 3 giống cà chua FM372C, M88 và DM166;
- Tỉ lệ nồng độ giữa cytokimin/IAA có ảnh hưởng tới khả năng hình thành callus và phát sinh phôi chồi. Với 2 ngưỡng nồng độ (4 và 8 µM) của cytokimin phối hợp với 4 ngưỡng nồng độ IAA (bao gồm 2, 4, 6 và 8µM) thì hiệu quả tác dụng tới sự hình thành callus và phát sinh phôi/chồi theo xu hướng “cytokimin/IAA<1” trên 3 giống thí nghiệm.
- Trong 6 công thức thí nghiệm thì công thức có nồng độ 8µM của cytokimin/5µM IAA luôn thể hiện ưu thế hơn hẳn các công thức còn lại (4/2, 4/4, 4/6, 4/8 và 8/8 µM tương ứng của cytokimin/IAA) về cả khả năng phát sinh callus và phát sinh phôi/chồi từ mô lá mầm của cả 3 giống cà chua thí nghiệm. Đặc biệt, Zeatin/IAA ở nồng độ 8/5 µM có hiệu quả tốt hơn hẳn BAP hoặc 2-iP. Do đó, việc sử dụng một loại môi trường tái sinh chung cho cả 3 giống FM372C, M88 và DM166 là hoàn toàn có thể. |