Nông - Lâm - Ngư nghiệp [ Đăng ngày (27/10/2012) ]
Đặc điểm mô bệnh học cá rô (anabas testudineus) nhiễm vi khuẩn Aeromonas Hydrophila và Streptococcus sp. trong điều kiện thực nghiệm
Nghiên cứu do các tác giả Đặng Thụy Mai Thy, Trần Thị Thủy Cúc, Nguyễn Châu Phương Lam, Đặng Thị Hoàng Oanh- Bộ môn Sinh học và Bệnh Thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ và Nguyễn Đức Hiền - Chi cục Thú Y Cần Thơ thực hiện nhằm cung cấp thông tin về những biến đổi mô học ở cá rô cảm nhiễm vi khuẩn A. hydrophila và Streptococcus sp. trong điều kiện phòng thí nghiệm, góp phần giúp cho việc chẩn đoán chính xác bệnh và điều trị bệnh đạt hiệu quả cao.

Ảnh minh họa

Tác giả đã mua cá rô giống ở Hậu Giang có trọng lượng từ 15-20g/con, cá tương đối đồng cỡ, khỏe mạnh. Cá giống sau khi mua về được nuôi dưỡng trong bể nhựa có sục khí khoảng một tuần và cho cá ăn thức ăn công nghiệp. Kiểm tra ký sinh trùng, vi sinh và tình trạng sức khỏe của cá trước khi bố trí thí nghiệm. Vi khuẩn A. hydrophila chủng A11-02 và Streptococcus  sp. chủng S11-01 từ bộ sưu tập vi khuẩn của Bộ môn Sinh học và Bệnh thủy sản, Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ được phân lập từ cá rô bị bệnh phù mắt và xuất huyết được sử dụng để gây cảm nhiễm. Vi khuẩn thuần được nuôi tăng sinh trong 100 ml môi trường Brain heart broth (Merck) và ủ trong tủ ấm ở 28ºC (đối với A. hydrophila) và -35ºC (đối với Streptococcus sp.) từ 24 – 48 giờ. Sau đó vi khuẩn được ly tâm với tốc độ 5.000 vòng/phút trong vòng 5 phút và được rửa 3 lần bằng nước muối sinh lý. Mật độ vi khuẩn được xác định bằng máy so màu quang phổ ở bước sóng 540nm. Với OD = 1,2 ± 0,01 tương đương với 2,8x108 CFU/ml. Bể nhựa 60L dùng để bố trí thí nghiệm với nguồn nước máy có sục khí 1 – 2 ngày trước khi thí nghiệm. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại bằng phương pháp tiêm ở gốc vi ngực gồm nghiệm thức một, tiêm chủng A11-02 với mật độ 2,75x107 CFU/ml; nghiệm thứ hai, tiêm chủng S11-01 mật  độ 2,87x107 CFU/ml; nghiệm thức 3, tiêm kết hợp chủng A11-02 và S11-01 với 3 mật  độ vi khuẩn 105, 106 và 107 CFU/ml; nghiệm thức 4, tiêm nước muối sinh lý và nghiệm thức 5, đối chứng không tiêm. Mật độ bố trí thí nghiệm 10 con/bể, cá được tiêm 0,1ml/cá. Thí nghiệm được theo dõi trong vòng 14 ngày, trong quá trình bố trí thí nghiệm cho cá ăn bằng thức ăn viên. Mẫu được thu vào ngày thứ 1, 2, 3, 4, 5, và 14 sau cảm nhiễm gồm mẫu mô da-cơ, mang, gan, thận, tỳ tạng của cá bệnh (các nghiệm thức gây cảm nhiễm) và cá khỏe (nghiệm thức đối chứng), mẫu được thu và cố định trong dung dịch formol trung tính 10%. Mẫu được xử lý qua các giai đoạn: loại nước, làm trong mẫu và tẩm paraffin. Sau  đó mẫu  được đúc khối, cắt với  độ dày từ 4-6µm và nhuộm Haematoxylin và Eosin, Giemsa. Tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi lần lượt ở độ phóng đại 10x, 40x và 100x và chụp hình tiêu bản đặc trưng. Mẫu phết kính tiêu bản tươi mô gan, thận và tỳ tạng được nhuộm Gram và nhuộm Giemsa.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cá rô cảm nhiễm A. hydrophila mật  độ 2,75x107 CFU/m hoặc  Streptococcus  sp. mật  độ 2,87x107 CFU/ml có tỷ lệ chết thấp (25% và 45%) so với cá nhiễm kép (90%). Cấu trúc mô tỳ tạng và thận biến đổi đầu tiên dưới ảnh hưởng của vi khuẩn gây bệnh. Gan biến đổi chậm hơn và các cơ quan đều có hiện tượng xung huyết, xuất huyết, hoại tử. Cá tiêm một chủng vi khuẩn có sự thay đổi ở mô ít hơn so với cá tiêm kép ở các mật độ vi khuẩn khác nhau. 

dtphong
Theo http://www.ctu.edu.vn
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Video  
 
 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này