Tin học [ Đăng ngày (24/10/2012) ]
Công nghệ thông tin xanh là gì?
Khái niệm về công nghệ thông tin (CNTT) xanh của các quốc gia và tố chức trên thế giới.

Theo Liên hiệp Viễn thông quốc tế - ITU (International Telecommunication Union), công nghệ thông tin (CNTT) xanh là sử dụng tối ưu CNTT để quản lý sự bền vững của môi trường, hoạt động sản xuất doanh nghiệp và chuỗi cung ứng các sản phẩm, dịch vụ và nguồn tài nguyên trong suốt vòng đời của chúng1.

Có 4 yếu tố để xác định CNTT xanh:

-         - Giảm thiểu các nguyên liệu gây nguy hiểm trong ngành CNTT;

-         - Tái chế và tái sử dụng các sản phẩm CNTT;

-         - Sử dụng tối đa hóa nguồn năng lượng;

-         - Ứng dụng các sản phẩm và công nghệ thông tin vào các lĩnh vực khác nhằm cải thiện môi trường.

Ba yếu tố đầu thường được gộp chung vào thành một nhóm và được gọi chung bằng một thuật ngữ là “Xanh hóa CNTT”, có nghĩa là làm cho CNTT xanh hơn, thân thiện với môi trường hơn, hay nói cách khác là cải thiện tác động lên môi trường của các sản phẩm CNTT. Yếu tố thứ tư cũng được gọi bằng một thuật ngữ riêng là “xanh nhờ CNTT”, có nghĩa là thông qua việc sử dụng các sản phẩm CNTT trong các lĩnh vực khác để cải thiện môi trường. Vì vậy, “CNTT xanh” bao gồm “Xanh hóa CNTT”“Xanh nhờ CNTT”.

Gartner 2 cho rằng CNTT xanh là “CNTT phát triển bền vững thân thiện môi trường” và “sử dụng CNTT để bảo vệ môi trường”

Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản đã định nghĩa CNTT xanh là “Tiết kiệm năng lượng trong ngành CNTT” vì một cơ cấu xã hội hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Theo ESCAP3, CNTT xanh là quá trình sử dụng, sản xuất CNTT làm phát ít khí nhà kính ra ngoài môi trường, đồng thời góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính của các khu vực khác thông qua việc ứng dụng công nghệ, thay đổi thể chế và hành vi. CNTT xanh bao gồm 2 lĩnh vực chính: xanh hóa ngành CNTT (Green of  IT) và xanh hóa các ngành khác nhờ CNTT (Green by IT).

Hàn Quốc coi CNTT xanh là công nghệ thông tin góp phần giải quyết các vấn đề về năng lượng và môi trường trong tất cả các lĩnh vực của xã hội thông qua việc giảm thiểu sử dụng năng lượng, giảm khí CO2, nâng cao tính hiệu quả trong sử dụng tài nguyên.

CNTT xanh là gì?

Như vậy, có thể thấy nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới đã coi rằng CNTT xanh bao hàm 2 phạm vi là làm cho bản thân CNTT giảm bớt tác động xấu tới môi trường (xanh hóa CNTT) và sử dụng CNTT để làm giảm tác động xấu tới môi trường của các lĩnh vực khác (xanh nhờ CNTT).

Xanh hóa CNTT

Làm cho CNTT sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hơn; giảm sử dụng các nguyên vật liệu gây độc hại cho sức khỏe con người và môi trường, giảm thiểu việc phát thải khí nhà kính trong các quá trình:

-  Sản xuất các thiết bị CNTT;

-  Sử dụng các thiết bị CNTT;

-  Thải bỏ các thiết bị CNTT.

Xanh nhờ CNTT

Sử dụng, ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực khác để làm giảm tác động xấu của các lĩnh vực đó đối với môi trường.

-------------

1 ITU 2010, Biên bản thảo luận: Thay đổi khí hậu, Chính sách và CNTT&TT

2 Garther, Định nghĩa “CNTT xanh” và năng lượng trung tâm dữ liệu và vấn đề làm mát, 2007

3 ESCAP 2009, Green ICT: A “Cool” Factor in the Wake of Multiple Meltdowns

N.Tùng - Tổng hợp
Theo Viện chiến lược Thông tin & Truyền thông
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->