Hầm ủ biogas - Ảnh minh họa
Tác giả đã tiến hành bố trí thí nghiệm trong ao đất, mỗi ao có diện tích 4 m2 (dài 2 m, rộng 2 m và sâu 1m) tại Trại thực nghiệm giống thủy sản ở Trung tâm Hòa An – Đại học Cần Thơ. Thí nghiệm có 6 nghiệm thức gồm nghiệm thức I: bón 150 g CaO/m2 kết hợp với 300 g phân heo/m2. Nghiệm thức II: bón 150 g CaO/m2 kết hợp nước thải biogas với liều lượng bằng 75% TN so với lượng phân heo ở nghiệm thức I. Nghiệm thức III: bón 150 g CaO/m2 kết hợp nước thải biogas với liều lượng bằng 100% TN so với lượng phân heo ở nghiệm thức I. Nghiệm thức IV: bón 150 g CaO/m2 kết hợp nước thải biogas với liều lượng bằng 125% TN so với lượng phân heo ở nghiệm thức I. Nghiệm thức V: bón 150 g CaO/m2 kết hợp nước thải biogas với liều lượng bằng 150% TN so với lượng phân heo ở nghiệm thức I. Nghiệm thức VI: đối chứng (bón 150 g CaO/m2). Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Nước thải biogas sử dụng trong thí nghiệm có hàm lượng TN trung bình 80,4 mg/L và TP trung bình 166 mg/L. Phân heo sử dụng trong thí nghiệm có hàm lượng TN trung bình 6,79 mg/g và TP trung bình 0,96 mg/g. Nước thải biogas, phân heo và vôi được bổ sung định kỳ 8 ngày/lần. Thí nghiệm được kết thúc khi nghiệm thức sau cùng đạt giá trị ổn định về pH: 6,5-7,5; oxy hòa tan (DO): ≥ 3 mg/L; số lượng phiêu sinh động vật: 25.000–35.000 cá thể/lít. Chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả là chi phí cho nguyên liệu sử dụng. Ương giống cá sặc rằn và rô đồng trong các ao sau khi đã cải tạo thực nghiệm ương cá gồm 2 thí nghiệm trên hai đối tượng cá sặc rằn (S) và cá rô đồng (R). Cá thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại cho mỗi loài cá, mỗi thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức: sử dụng nước thải biogas 179 m3/1.000 m2 (S1 hoặc R1), 50% thức ăn bổ sung (S2 hoặc R2) và nước thải biogas 179 m3/1.000 m2 kết hợp 100% thức ăn bổ sung (S3 hoặc R3). Cá bột dùng bố trí thí nghiệm là cá bột 3 ngày tuổi, cá sặc rằn bột có khối lượng 0,001 g, chiều dài 0,5 cm và cá rô đồng bột có khối lượng 0,001 g, chiều dài 0,4 cm. Mật độ ương 400 con/m2. Thức ăn bổ sung sử dụng trong quá trình ương cá là thức ăn tự chế và thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng đạm 40%. Cá ương được cho ăn từ 2- 4 lần/ngày với khẩu phần ăn dao động từ 20-30% so với trọng lượng thân. Các yếu tố nhiệt độ, pH, DO, TN, Chlorophyll-a được thu mẫu định kỳ và phân tích theo phương pháp của APHA, thức ăn tự nhiên được thu mẫu và phân tích theo phương pháp Shirota, cá ương thu mẫu 15 ngày/lần để kiểm tra tốc độ tăng trưởng (g/ngày). Sau chu kỳ ương 2 tháng, cá được thu hoạch, tỷ lệ sống cùng năng suất cá giống sẽ được xác định.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, quá trình cải tạo ao nhiễm phèn, nếu chỉ sử dụng vôi CaO thì hiệu quả không cao so với khi sử dụng vôi kết hợp với phân heo hay nước thải từ hầm ủ biogas. Sử dụng nước thải biogas với liều lượng bằng 75% TN của phân heo (300 g phân heo/m2 tương đương 179 m3 nước thải biogas/1.000 m2) mang lại hiệu quả cao trong cải tạo ao, các yếu tố môi trường ổn định (DO là 3,43–5,53; pH 6,62; Chlorophyll–a 70,6 µg/L; TN 4,65 mg/L và TP 0,44 mg/L), chi phí cải tạo ao thấp. Có thể dùng nước thải biogas để cải tạo ao ương cá sặc rằn và rô đồng trên vùng đất nhiễm phèn. Với lượng nước thải biogas 179 m3/1.000m2 ao và có bổ sung thức ăn thì cá sinh trưởng và phát triển bình thường. Cá sặc rằn đạt khối lượng và chiều dài trung bình là 3,05±0,87 và 5,97±0,39 cm. Cá rô đồng đạt khối lượng và chiều dài trung bình là 2,88±1,27g và 5,24±0,88 cm. Năng suất cá sặc rằn 270 kg/1.000m2 và tỷ lệ sống là 22,2%. Năng suất cá rô đồng là 161 kg/1.000m2 và tỷ lệ sống là 14,1%. |