Nông - Lâm - Ngư nghiệp
[ Đăng ngày (22/10/2012) ]
|
|
Biến động các yếu tố môi trường và mật độ vi khuẩn Bacillus sp. trong bể nuôi tôm sú (Penaeus monodon)
|
|
|
Nghiên cứu do các tác giả Phạm Thị Tuyết Ngân và và Trương Quốc Phú - Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ thực hiện nhằm nghiên cứu về sự biến động các yếu tố môi trường và mật độ vi khuẩn Bacillus trong điều kiện kiểm soát để đánh giá khả năng làm sạch môi trường và biến động mật độ của vi khuẩn Bacillus chọn lọc trong bể nuôi tôm sú (Penaeus monodon) làm cơ sở cho việc quản lý chất lượng nước trong nuôi tôm thâm canh.
|
Ảnh minh họa
Tác giả nghiên cứu ba chủng vi khuẩn phân lập từ ao nuôi tôm sú thâm canh đã được bố trí vào bể nuôi tôm sú. Nguồn tôm giống thí nghiệm có nguồn gốc từ trại giống Minh Thuận (TP. Cần Thơ). Trọng lượng trung bình của tôm thả nuôi là 0,4 g/con. Tôm được xử lý bằng formol ở nồng độ 30 mg/L khoảng 15-30 phút trước khi bố trí thí nghiệm. Nguồn nước biển 100‰ có nguồn gốc từ Vĩnh Châu, được pha với nước máy để đạt được độ mặn 16‰. Nước được xử lý bằng clorine với nồng độ 30 mg/L, sau đó tiệt trùng bằng Ozone khoảng 7-8 giờ với nồng độ khoảng 0,2 mg/L. Bùn được lấy từ ao nuôi tôm sú tại huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Trước khi bố trí vào bể, bùn được xử lý bằng cách tiệt trùng ở 121oC khoảng 15-20 phút trong nồi hấp tiệt trùng. Thí nghiệm được triển khai từ tháng 1-5/2009 tại Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ. Thí nghiệm được tiến hành với 4 nghiệm thức: Nghiệm thức 1 (ĐC) - không cấy vi khuẩn. Nghiệm thức 2 (B41) - cấy vi khuẩn Bacillus chủng 41. Nghiệm thức 3 (B67) - cấy vi khuẩn Bacillus chủng 67. Nghiệm thức 4 (B9) - cấy vi khuẩn Bacillus chủng 9. Mật độ cấy là 106 CFU/mL/nghiệm thức. Thí nghiệm được tiến hành trong 12 bể composite có thể tích 0,5 m3 đã được sát trùng bằng clorine trước khi bố trí thí nghiệm. Nước được bơm vào bể với thể tích khoảng 400L. Mỗi bể được bố trí một lớp bùn từ 5-7 cm ở đáy bể. Mật độ thả tôm 30 con/m2. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên. Trong suốt quá trình thí nghiệm, các chỉ tiêu chất lượng nước và mật độ vi khẩn được theo dõi. Mẫu vi khuẩn được thu trước khi bổ sung vi khuẩn và tiếp theo ngày thu một lần liên tục trong 7 ngày đầu, sau đó định kỳ 2 tuần thu mẫu một lần cho đến khi kết thúc thí nghiệm. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tổng vi khuẩn, tổng Vibrio, Bacillus, nhiệt độ, pH, độ mặn, TSS, DO, COD, TAN, NO -, NO -, H S, TN bằng các phương pháp nuôi tăng sinh vi khuẩn; phương pháp xác định mật độ tổng vi khuẩn và Vibrio; phương pháp xác định mật độ vi khuẩn Bacillus; phương pháp thu và phân tích chất lượng nước; cách cho ăn và quản lý tôm nuôi thí nghiệm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết các chỉ tiêu chất lượng nước được cải thiện rõ rệt ở tất cả các nghiệm thức có bổ sung vi khuẩn so với không bổ sung vi khuẩn. Trong ba chủng vi khuẩn bổ sung, hiệu quả của chủng B9 tốt nhất dựa trên các chỉ tiêu chất lượng nước, tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng. Mật độ vi khuẩn Bacillus trong bùn chiếm ưu thế cao nhất ở nghiệm thức sử dụng B9 và thấp nhất ở nghiệm thức đối chứng. Mật độ tổng vi khuẩn và Vibrio, trong bùn và nước ở các nghiệm thức có bổ sung vi khuẩn luôn thấp hơn đối chứng.
|
dtphong
Theo http://www.ctu.edu.vn |