Ảnh minh họa
Tác giả đã nghiên cứu nguồn vi khuẩn bổ sung vào hệ thống thí nghiệm được phân lập từ ao nuôi tôm sú thâm canh tại huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Ấu trùng nauplius lấy từ trại sản xuất giống tôm sú Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ. Lọc sinh học sử dụng giá thể là những hạt xốp tròn đường kính 4 mm. Thí nghiệm này gồm 3 nghiệm thức với các mật độ vi khuẩn Bacillus khác nhau là NT1 (106 CFU/ml), NT2 (105 CFU/ml), NT3 (104 CFU/ml) và nghiệm thức đối chứng không bổ sung vi khuẩn. Lọc tuần hoàn của NT1, NT2 và NT3 được bổ sung 104 CFU/ml vi khuẩn Nitrosomonas và 104 CFU/ml vi khuẩn Nitrobacter. Các bể được nối với bể lọc tuần hoàn ở giai đoạn Mysis 1, lọc được vận hành đến khi kết thúc thí nghiệm. Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Sử dụng 4 bể loại 50 L để làm bể lọc cho mỗi nghiệm thức riêng biệt và 12 bể 100 L làm bể ương. Nước được pha có nồng độ muối là 30‰, tiệt trùng bằng chlorine nồng độ 80 mg/L, sục khí mạnh và liên tục trong 48 giờ, sau đó để lắng 2 ngày cuối cùng lọc lại trước khi đưa vào bể ương. Nước chuẩn bị đưa vào bể ương được kiểm tra nồng độ chlorine bằng KI. Các hạt xốp sử dụng làm giá thể được đựng trong túi bằng lưới cước đặt trong bể lọc, thể tích lọc chiếm 15% thể tích bể ương. Ống nhựa được xử lý với chlorine 80 mg/L. Ấu trùng tôm ở giai đoạn Nauplius được xử lý bằng formol 25 ppm trong 5 phút, bố trí vào bể ương với mật độ 150 ấu trùng/L. Mẫu được thu 3 ngày/lần với các chỉ tiêu bao gồm: pH, nhiệt độ, TAN, NO3-, NO2-, COD, DO, TSS, TN, H2S và mật độ vi khuẩn (thu nước và thu giá thể). Thí nghiệm được kết thúc khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn PL7 bằng các phương pháp nuôi tăng sinh vi khuẩn; phương pháp thu và phân tích mẫu vi khuẩn; phương pháp thu và phân tích chất lượng nước; phương pháp thu và phân tích mẫu tôm; phương pháp xử lý số liệu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở 2 nghiệm thức mật độ vi khuẩn Bacillus bổ sung 105 và 106CFU/ml khả năng phân hủy vật chất hữu cơ tốt hơn thông qua các chỉ tiêu COD, TAN, NO2-, NO3-, TSS và TN. Khả năng duy trì mật độ vi khuẩn bổ sung ở 2 nghiệm thức này cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức 104CFU/ml và đối chứng. Mặt khác khả năng lấn át các dòng vi khuẩn khác đặc biệt là vi khuẩn Vibrio tốt hơn và tạo dòng vi khuẩn ưu thế có lợi cho môi trường ương. Tỷ lệ sống của ấu trùng từ Z3 – P7 ở NT1 và NT2 luôn cao hơn có ý nghĩa thống kê với 2 nghiệm thức còn lại. Vì vậy, bổ sung vi khuẩn với mật độ thích hợp mang lại hiệu quả cao trong quá trình ương giống trong hệ thống lọc tuần hoàn. |